Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN MA TÚY TRÁI PHÉP THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy Khái niệm về ma tuý Để xác định chính xác những hành vi bị coi là tội phạm về ma túy nói chung cũng như tội mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng, trước hết cần làm rõ khái niệm về ma túy.
Theo quan điểm thông dụng hiện nay, ma túy thường được hiểu là thuốc phiện, heroin, thuốc lắc, ma túy đá. Trong pháp luật nước ta, các nhà lập pháp sử dụng thuật ngữ “ma túy” tương tự thuật ngữ “chất ma túy”. Thuật ngữ “chất ma túy” chính thức được sử dụng lần đầu trong Bộ luật Hình sự năm 1985 với việc quy định tội danh “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (Điều 203 BLHS 1985). Sau đó, cụm từ này được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật khác như Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Nghị định số 141/HĐBT năm 1991 về xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này, cụm từ “ma túy” hay “chất ma túy” không được định nghĩa. Để tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành một số thông tư hướng dẫn, như: Thông tư liên ngành số 07/TTLN ngày 05/12/1992 hướng dẫn thi hành điều 96a và điều 203 của Bộ luật Hình sự 1985; Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 10/10/1996 hướng dẫn áp dụng Điều 96a và Điều 203 của Bộ luật Hình sự 1985; Thông tư liên ngành 01/TTLN ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 1997 của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất. Tuy nhiên, các văn bản này cũng không đưa ra khái niệm “chất ma túy” mà chỉ liệt kê, đưa ra danh mục các chất được coi là ma 7 n túy. Bộ luật hình sự được quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1999 trong chương XIII quy định các tội phạm về ma túy có nhiều đổi mới so với BLHS 1985 [35,tr.31-34] nhưng BLHS vẫn không định nghĩa về chất ma túy mà chỉ đưa ra tên các loại được cho là ma túy tại các điều luật cụ thể.
Điều 2 Luật phòng, chống ma túy năm 2000 đưa ra định nghĩa”Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành”; “Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”; “Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng”. Như vậy, theo điều luật, các chất ma túy được định nghĩa thông qua hai khái niệm là “chất gây nghiện” và “chất hướng thần”. Danh mục các chất ma túy và tiền chất được quy định tại Nghị định số 67/2001/NĐ-CP, ngày 01/10/2001 của Chính phủ. Theo tinh thần các quy định của BLHS năm 1999 và sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009, Điều 2 Luật phòng, chống ma tuý năm 2000 và Nghị định số 67/2001/NĐ-CP, ngày 01/10/2001 của Chính phủ có thể định nghĩa chất ma tuý như sau: Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, tiền chất, các loại cây tự nhiên có thể chiết xuất dùng vào việc tạo ra chất ma túy có trong danh mục các chất ma túy do chính phủ ban hành”.
Tiếp cận dưới góc độ tác hại đối với cơ thể con người, chất ma túy được hiểu là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được con người sử dụng sẽ có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người. Khi sử dụng nhiều lần con người sẽ lệ thuộc vào nó, gây tổn hại đến thể chất và tinh thần của người sử dụng nó. Khái niệm về tội phạm Điều 8 Bộ luật hình sự nâm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) củâớcnu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đûa ra khái niệm về tội phạm nhû sau: 1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đûợc quy định trong Bộ luật Hình sự, do ngûời có nâng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một 8 n cách cố ý hoậc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,̂xam phạm chế độ chính trị, chế ̂đọkinh tế, nền vân hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã ̂i,họ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự,̂nhaphẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợiích hợp pháp khác củângco dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Cân cứ vào tính chất và mứĉ nguyđọ hiểm cho xã hội của hành vi đûợc quy định trong Bộ luật này, tội phạm đûợc phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đậc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là ̂itọ phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhấtcủa khung hình phạt đối vớîi tọấy là đến ba ̂mna tù; tội phạm nghiêm trọng là ̂itọ phạm gây nguy hại lớn cho xã ̂ihọ mà mức cao nhất của khung hình phạt đối vớî ấytọ là đến bảŷmna tù; tội phạm rất nghiêm trọng làtội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã̂ihọmà mức cao nhất của khung hình phạt đối vớîi tọấy là đến mûời lâm nâm tù; tội phạm đậc biệt nghiêm trọng là ̂itọ phạm gây nguy hại đậc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối vớîi tọấy là trên mûời lâm nâm tù, tù chung thân hoậc tử hình. Những hành vi tuy có dấûuhiẹcủa tội phạm, nhûng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là ̂itọ phạm và đûợc xử lý bằng các biện pháp khác”. Khoản 1 của Điều luật xác định khái niệm tội phạm một cách khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà̂ớcnu về ̂itọ phạm.
Nó không chỉ là cô sở khoa học thống nhấtcho việc xác định những loạîitọ phạm cụ thể trong việc phân loại các ̂itọ phạm của BLHS mà còn là̂ cosở cho việc nhận thức và áp dụng đúng những điềût qluạy định về từng loại tội phạm cụ thể. 9 n Nếu nhû Điều 1 của Bộ luật Hình sự nêu lên những quan hệ xã hội chung quan trọng nhất đûợc Bộ luật Hình sự của ớ ̂ cnu Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ khỏi sự xâm hại của ̂itọ phạm thì khoản 1 Điều 8 đã cụ thể hóa nhữngan hệqu xã hội đó thành những khách thể củâi tọ phạm. Đó là:“Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,̂ chế đọ chính trị, chế ̂đọkinh tế, nền vân hoá, quốc phòng, an ninh, ̂trạ tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danĥ dự, nha phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp kháĉng củadân,conhững lĩnh vực khác của ̂trạ tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. “Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trunĝmta của luật Hình sự.
Việc đûa ra khái niệm này cho phép phân biệt hành vi nào là̂itọ phạm hành vi nào không phải là ̂itọ phạm. Các luật gia tû sản nhấn mạnh tính hình thức của ̂itọ phạm.Cụ thể họ cho rằng:̂iTọphạm là hành vi bị̂tluạHình sự cấm hoậc là“Vi phạm pháp luật bị Bộ luật Hình sự trừng”:trị(BLHS Pháp 1810) hoậc là“Hành vi do luật Hình sự cấm bằng nguŷcoxử phạt” (BLHS Thụy Sĩ nâm 1937). Nhû vậy, yếu tố luật Hình sự quy định, luật Hình sự cấm, luật Hình sự trừng trị là̂cđạđiểm duy nhất củâitọ phạm. Điều này hết sức nguy hiểm ở chỗ nhiều khi nó cho phép nhà ̂tlàmđûaluạ ý chí chủ quan của mình vào việc quy định hành vi nào là̂itọphạm.
Tuy nhiên, yếu tố luật định của tội phạm mà luật Hình sự ̂tu sản đûa ra đã cho thấy đûợc tiến bộ vûợt bậc. So với luật Hình sự phong kiến tránĥợcđu sự tùy ̂tiẹn khi coi một hành vi nào đó là̂itọphạm. Đûợc quy định ̂itọ phạm luật Hình sự hay Bộ luật Hình sự chỉ là dấûuhiẹhình thức củâitọ phạm. Tội phạm còn đûợc xác định thông qua dấu hiệu về mật nội dung.
Đó là:“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã ̂i”họ. Tuy nhiên đánh giá thế nào là nguy hiểm cho xã hội là vấn đề cần̂ợcđu làm sáng tỏ nếûngkho dễ rôi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguymhiểcho xã hội ở mức độ tội phạm gồm:” – Tính chất của các quan̂hẹxã hội bị xâm hại 10 n – Hậu quả do hành vi phạm ̂itọ gây ra – Tính chất và mứĉđọlỗi: các hình thức lỗi, các dạng ̂nglỗi, côđọ mục đích phạm ̂tọi. – Các yếu tố ̂cđạ trûng cho hành vi phạm ̂itọ nhû thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm ̂itọ.
Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam còn có một yếu tố mà nhà làm̂tluạxem nhû một trong những yếu tố làm̂ngta mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là yếu tố̂n thân ngûời phạm tội. Ví dụ yếu “Đãtố bị xử lý hành chính”. Đây là vấn đề đang tranh luận trong khoa học luật Hình sự. Bởi lẽ̂cviẹquy định yếu tố nhâ thân của ngûời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã ̂ihọ không phù hợp với nguyên tắc chung của luật Hình sự.
Đó là nguyê tắc:“Một ngûời không thể bị xử phạt hình sự về̂n nthân xấu của họ”. Tội phạm còn đûợc thể hiện thông qua dấu hiệu: Nâng lực trách nhiệm hình sự của ngûời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã ̂ihọ. Đây là đậc tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái ̂mniẹ tội phạm. Nâng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khảnâng ngûời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức và điểu ̂ợcđu hành vi của mình.
Điều đó cho thấy cho dù gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó nhûng nếu ngûời thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức đûợc hành vi, không điều khiển đûợc hành vi thì hành vi đó̂ngkho là hành vi ̂itọ phạm. Tính có lỗi: Tội phạm̂nluolà hành vi có lỗi. Cũng có lúc, có Bộ luật Hình sự coi những hành vi không có lỗi là̂itọ phạm.