Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO, CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM VÀ SỰ CẦN THIẾT BẢO VỆ TRẺ EM BẰNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em Ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới, trẻ em luôn là đối tƣợng đặc biệt, nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đình, nhà nƣớc và xã hội. Trong Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con ngƣời và các Công ƣớc quốc tế về Quyền con ngƣời, Liên Hợp Quốc đã công bố rằng, trẻ em có quyền đƣợc chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt.
Tuyên ngôn về Quyền trẻ em đã chỉ ra rằng: “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [38]. Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em đã đƣợc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và mở cho các nƣớc ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989. Ở Việt Nam, việc nuôi dƣỡng, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để các em phát triển toàn diện, trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội, đƣợc xem là quốc sách hàng đầu. Bên cạnh đó, một hệ thống các văn bản pháp luật về quyền trẻ em đã lần lƣợt đƣợc Quốc hội phê chuẩn, thông qua, tạo nên một hệ thống pháp luật về trẻ em, có đƣợc sự hài hòa nhất định giữa pháp luật quốc gia và Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em, xây dựng đƣợc một khung pháp lý bảo đảm cho việc thực thi có hiệu quả các quyền cơ bản của trẻ em trong cuộc sống.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nƣớc ta, có rất nhiều Bộ luật, Luật đề cập tới trẻ em nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của các em cũng nhƣ sự quan tâm, ƣu đãi nhất định mà Nhà nƣớc và xã hội dành cho các em trong nhiều lĩnh vực, nhƣ Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Giao thông đƣờng bộ. Tuy nhiên, cũng chính trong các luật này, giới hạn đến một độ tuổi nhất định để xác định một ngƣời là trẻ em lại đang có sự chênh lệch nhau khá nhiều; thậm chí, cùng một độ tuổi, ở luật này đƣợc xác định là trẻ em, nhƣng ở luật khác thì không còn là trẻ em nữa, mà đã thành ngƣời lớn, điều đó đã gây những khó khăn, vƣớng mắc nhất định cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề trẻ em. Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trẻ em đƣợc hiểu là ngƣời dƣới 16 tuổi [56]; theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính (quy định không xử phạt trẻ em dƣới 14 tuổi) thì độ tuổi của một ngƣời để đƣợc coi là trẻ em lại là dƣới 14 tuổi. Nhƣ vậy, ngay trong các văn bản quy phạm pháp luật của nƣớc ta đã không có sự thống nhất xung quanh cách hiểu về trẻ em.
Theo quy định tại Điều 1 Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20/11/1989: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [43]. Các văn kiện, công ƣớc quốc tế liên quan đến việc bảo vệ quyền con ngƣời, quyền của phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên nhƣ: Công ƣớc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ƣớc về Quyền trẻ em, Nghị định thƣ không bắt buộc (bổ sung cho Công ƣớc về Quyền trẻ em) về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, các thỏa thuận, ghi nhớ với một số nƣớc có chung đƣờng biên giới với nƣớc ta về hợp tác chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, và hiện Việt Nam đang nghiên cứu các điều kiện để phê chuẩn Công ƣớc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các Nghị định thƣ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bổ sung về chống buôn bán phụ nữ, trẻ em và chống đƣa ngƣời di cƣ trái phép. cũng đều quy định trẻ em là những ngƣời dƣới 18 tuổi. Trong khi đó, định nghĩa trẻ em của pháp luật Việt Nam vẫn coi trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi.
Đây chính là một dạng xung đột pháp luật và nhất thiết phải có sự hóa giải để đảm bảo tính khả thi của pháp luật. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam không quy định cụ thể độ tuổi để xác định một ngƣời là trẻ em. Trong hệ thống pháp luật hiện hành của nƣớc ta, đạo luật dành riêng cho trẻ em là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Vì vậy, trong khi chờ Nhà nƣớc hóa giải những xung đột pháp luật liên quan tới quy định về độ tuổi trẻ em, tạo sự tƣơng thích giữa pháp luật quốc nội và pháp luật quốc tế, để tạo sự thống nhất trong quan niệm về trẻ em, chúng ta nên căn cứ vào định nghĩa trẻ em đƣợc nêu trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [56].
Điều 120 Bộ luật hình sự 1999 không đƣa ra định nghĩa về các hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, mà chỉ đƣa ra điều văn “người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào” [59, tr. 97] đều bị coi là tội phạm. Ngoài ra, các văn bản hƣớng dẫn, cũng không có một văn bản nào đƣa ra khái niệm mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Theo Thông tƣ 01/2013/TTLB- TANDTC-VKSNDTC- BCA- BQP –BTP, tại Điều 4, các thuật ngữ ở đây cần đƣợc hiểu nhƣ sau: 1.
Mua bán trẻ em là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (ngƣời dƣới 16 tuổi) nhƣ một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: a) Bán trẻ em cho ngƣời khác, không phụ thuộc vào mục đích của ngƣời mua; 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Mua bán trẻ em để bán lại cho ngƣời khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của ngƣời mua sau này nhƣ thế nào; c) Dùng trẻ em làm phƣơng tiện để trao đổi, thanh toán; d) Mua trẻ em để bóc lột, cƣỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác. “Đánh tráo trẻ em” là hành vi thay thế trẻ em này bằng trẻ em khác ngoài ý muốn của cha mẹ, ngƣời nuôi dƣỡng hoặc ngƣời quản lý hợp pháp của một hoặc cả hai đứa trẻ. “Chiếm đoạt trẻ em” là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của ngƣời nuôi dƣỡng trẻ em nhằm chiếm giữ đứa trẻ hoặc giao cho ngƣời khác chiếm giữ đứa trẻ đó. Ngƣời tổ chức, ngƣời xúi dục, ngƣời giúp sức cho ngƣời thực hiện một trong các hành vi đƣợc hƣớng dẫn tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm [65].
Trong số ba hành vi quy định tại Điều 120, chỉ có hành vi chiếm đoạt trẻ em nhà làm luật mới quy định “dƣới bất kỳ hình thức nào”, còn hành vi mua bán và hành vi đánh tráo thì không thể quy định mua bán hoặc đánh tráo dƣới bất kỳ hình thức nào. Quy định “chiếm đoạt trẻ em dƣới bất kỳ hình thức nào” [59, tr. 97] là để phân biệt với trƣờng hợp “bắt trộm trẻ em” quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 mới chỉ nói lên hình thức lén lút; còn trên thực tế, ngƣời phạm tội không chỉ lén lút, mà còn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, dùng thủ đoạn gian dối, công nhiên hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạt trẻ em. Từ Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tội phạm mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, có thể đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm quyền tự do thân thể, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và quyền đƣợc quản lý, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em.
Ngƣời phạm tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em phải bị xử lý bằng hình phạt [59]. Sự cần thiết bảo vệ trẻ em bằng các quy định của Luật hình sự Việt Nam Trẻ em luôn là đối tƣợng đƣợc quan tâm của gia đình, nhà nƣớc và xã hội, trẻ em là đối tƣợng đặc biệt cần đƣợc sự bảo vệ của pháp luật. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm “trẻ em nhƣ búp trên cành” và đó cũng là quan niệm của cả dân tộc ta về thiếu niên nhi đồng. Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là chăm lo cho hạnh phúc của chính chúng ta hôm nay, của tƣơng lai chúng ta mai sau, và mãi là truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta.
Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dƣỡng thế hệ trẻ đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta chú ý từ rất sớm thể hiện trong nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân. Từ năm 1945 đến nay, trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển của đất nƣớc, cùng với việc dần hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chủ trƣơng, chính sách hƣớng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo đức của trẻ em; đã tổ chức thực hiện nhiều chính sách tầm chiến lƣợc, nhiều chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng để đảm bảo mọi trẻ em đều có quyền đƣợc sống, phát triển, tham gia và đƣợc bảo vệ không bị xâm hại trong môi trƣờng an toàn, lành mạnh và thân thiện, không bị phân biệt đối xử.