Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Nhận thức chung về tội phạm hủy hoại rừng 1. Khái niệm tội phạm hủy hoại rừng Trong lịch sử phát triển của đất nước, ý thức về bảo vệ tài nguyên rừng được chú ý và quan tâm trong nửa cuối thế kỷ XX, khi hậu quả của việc tàn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến thiên tai hiện hữu như: Ô nhiễm đất, nước và không khí, lũ lụt, nạn sa mạc hóa, hiệu ứng nhà kính v. Nguyên nhân chủ yếu là do rừng bị suy giảm, để đấu tranh có hiệu quả với những hành vi hủy hoại rưng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tích cực đem lại kết quả bước đầu, khả quan, việc bảo vệ rừng là yếu tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng, lâu dài, vững chắc của đất nước nhưng vẫn còn những tồn tại, vướng mắc, tình trạng hủy hoại rừng có chiều hướng diễn biến phức tạp, tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế bảo vệ rừng có hiệu quả hơn.
Một trong những mắt xích chủ yếu, quan trọng của cơ chế này là chính sách hình sự áp dụng đối với những hành vihủy hoại rừng. Trong lịch sử lập pháp hình sự, BLHS năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường và hủy hoại rừng. Điều này không chỉ thể hiện qua việc BLHS 1985 chưa dành riêng một chương cho các tội phạm về môi trường, mà được quy định gộp lại với những tội phạm khác như: Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (Điều 179); tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai (Điều 180); tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181), những tội phạm này trong BLHS 1985 được hiểu là những tội phạm kinh tế và xếp vào Chương VII “các tội phạm về kinh tế”. Tương tự như vậy, tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng danh lam, thắng cảnh (Điều 216) được hiểu là tội xâm phạm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trật tự quản lý hành chính (mục C của Chương VIII).
Cả BLHS 1985 chỉ có một điều duy nhất trực tiếp quy định trách nhiệm hình sự cho những hành vi xâm hại đến môi trường đó là tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 195) [12]. Nền tảng của chính sách hình sự về bảo vệ môi trường trong đó có tài nguyên rừng của Việt Nam đã được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp đã khẳng định việc bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng của mọi người và toàn xã hội: Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường (Điều 29). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2013 xác định: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43); Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường và rừng, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; tổ chức, các nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và làm suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại(Điều 63) [22], từ những quy định nêu trên có thể thấy, Nhà nước ta đã nhận thức một cách sâu sắc về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng.
Chính sách hình sự của Việt Nam hiện hành quy định tội hủy hoại rừng tại Điều 189 của Chương XVII, của chương các tội phạm về môi trường, đây là một bước đột phá quan trọng khi xây dựng một chương riêng trong BLHS năm 1999 cho các tội phạm về môi trường,thể hiện quyết tâm đấu tranh với loại tội phạm này thông qua việc quy định hình phạt hết sức nghiêm khắc với mức hình phạt cao nhất lên đến 15 năm tù. Hành vi cấu thành tội phạm quy định tại Điều 189 của Chương XVII của BLHS là những hành vi xâm hại tài nguyên rừng, có tính nguy hiểm cho xã hội 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao,những hành vi có tính nguy hiểm xã hội thấp hơn, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được xử lý bằng các biện pháp khác như áp dụng trách nhiệm hành chính. Với diễn biến phức tạp của đời sống xã hội và tình hình tội phạm hủy hoại rừng, những hành vi xâm hại tài nguyên rừng sẽ được nghiên cứu thường xuyên góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự. Từ những phân tích nhận định trên, thiết nghĩ cần phải có nhận thức chung nhất về hành vi hủy hoại rừng để đưa ra khái niệm về tội phạm hủy hoại rừng, chỉ ra tính chất, đặc trưng của tội phạm này đã được quy định tại Điều 189 của BLHS.
Khái niệm tội phạm hủy hoại rừng: Tội phạm hủy hoại rừng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện có lỗi, xâm hại tài nguyên rừng làm cho rừng mất hoàn toàn giá trị hoặc làm suy giảm đáng kể giá trị của rừng. Qua khái niệm nêu trên có thể thấy những nội dung bao hàm trong khái niệm tội hủy hoại rừng gồm: Là tội phạm được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một trong các hành vi khách quan hủy hoại rừng (đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác), chủ thể thực hiện tội phạm có lỗi và gây thiệt hại về rừng đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, đi sâu phân tích sẽ giúp làm sáng tỏ nội dung khái niệm về tội hủy hoại rừng, cụ thể: Tội hủy hoại rừng là tội phạm được tách từ tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng quy định tại Điều 181 BLHS năm 1985, do tính chất của hành vi và thiệt hại do hành vi hủy hoại rừng gây ra nên nhà làm luật quy định hành vi hủy hoại rừng là tội phạm về môi trường. Quy định nêu trên với nội hàm chứa các dấu hiệu đặc trưng của loại tội phạm hủy hoại rừng, kết cấu quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS là liệt kê các hành vi có thể thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm này. Trong khoản này bao hàm các nội dung như chủ thể thực hiện tội phạm là “người nào”, ở đây xác định bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo quy định của BLHS khi vi phạm một trong các tội phạm được quy định trong BLHS, cụ thể ở đây là tội hủy hoại rừng.
Trách nhiệm hình sự, là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định đối với người phạm tội. Việc áp dụng trách nhiệm hình sự chính xác đối với người phạm tội có mục đích rất quan trọng, mang tính chất nhằm từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới thủ tiêu tình trạng phạm tội và những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác, phản ánh thái độ của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm bằng việc quy định các biện pháp cưỡng chế về hình sự để áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có sự việc phạm tội, không có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị BLHS quy định là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định, một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội [34], người thực hiện tội phạm hủy hoại rừng chính là người thực hiện những hành vi hủy hoại rừng, xâm phạm tài nguyên rừng làm mất hoàn toàn hoặc làm giảm đáng kể giá trị rừng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
Một khi đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự cũng cần cân nhắc và đảm bảo hai khía cạnh là điều kiện cần và đủ để buộc một người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đó phạm vào một tội được quy định trong luật hình sự, đó là về năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện tội phạm và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Dưới góc độ lập pháp, tuổi chịu trách nhiệm hình sự không được ghi nhận chính thức như là một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm trong Điều 8 BLHS, nhưng dấu hiệu này lại rất quan trọng, không thể thiếu trong yếu tố chủ thể của tội phạm bên cạnh dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự [34]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở cân nhắc sự phát triển về thể chất, khả năng nhận thức và các yếu tố tâm, sinh lý, độ tuổi, cũng như xuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và qua tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật của nước ta, BLHS hiện hành đã thể hiện quan điểm phân hóa trách nhiệm hình sự một cách cụ thể, đã phân loại tội phạm thành bốn loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với các tiêu chí để phân loại bốn loại tội phạm bao gồm: Tính chất nguy hiểm cho xã hội, mức độ nguy hiểm cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt (chế tài).