lời mở đầu: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vậy Chính phủ ra Quốc lệnh rõ ràng gồm có 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm” [32, tr. Trong đó, “Mười điều thưởng” trong Quốc lệnh được ban hành với nội dung rất rõ ràng, cụ thể về những hành động, việc làm được khen thưởng: “1. Nhà nào có ba con tòng quân sẽ được thưởng; 2.
Ai lập được quân công sẽ được thưởng; 3. Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng; 4. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng; 5. Ai làm việc công một cách ngay thẳng sẽ được thưởng; 6.
Ai làm việc có ích cho nước nhà, dân tộc được dân chúng mến phục sẽ được thưởng; 7. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng; 8. Ai bắt được nhiều kẻ phản quốc sẽ được thưởng; 15 Luan van 9. Ai liều mình vì việc công sẽ được thưởng; 10.
Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng” [32, tr. Việc quy định mười điểm thưởng trong Quốc lệnh chính là cơ sở pháp lý đầu tiên về điều kiện khen thưởng, là minh chứng đầu tiên về chính sách trong khen thưởng của Đảng và Nhà nước và đặt nền móng xây dựng ngành khen thưởng ở nước ta. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Khen thưởng là khen và thưởng bằng hiện vật xứng với thành tích, công lao: khen thưởng về thành tích lao động sáng tạo; khen thưởng các học sinh giỏi” [62, tr. Tại Khoản 2, Điều 3, Luật Thi đua, Khen thưởng (Văn bản hợp nhất số 16/VBHN-VPQH ngày 13/12/2013 của Văn phòng Quốc hội hợp nhất Luật Thi đua, Khen thưởng) ghi rõ: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trên cơ sở các lý luận trên về khen thưởng, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn sử dụng khái niệm về khen thưởng được quy định trong Khoản 2, Điều 3, Luật Thi đua, Khen thưởng làm cơ sở lý luận về khen thưởng, bởi khái niệm đã đảm bảo được tính thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng. Có thể thấy, khen thưởng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nói riêng và tổ chức nói chung. Thể hiện trách nhiệm của tổ chức cũng như người đứng đầu trong việc ghi nhận công lao, thành tích của tập thể, cá nhân. Trong hoạt động quản lý nhà nước, khen thưởng là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước; một hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương; là biện pháp cơ bản để đánh giá những cố gắng, thành tích đạt được cũng như các hoạt động đóng góp của tập thể, cá nhân trong công việc và xã hội.
Qua việc khen thưởng sẽ phát huy mặt ưu điểm của từng cá nhân, từ đó tiếp tục khơi dậy sự sáng tạo, phát 16 Luan van huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của từng cá nhân cho sự phát triển của tổ chức nói riêng và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc nói chung; đồng thời khen thưởng giúp thúc đẩy tinh thần làm việc và tạo động lực để mọi cá nhân cố gắng đạt được những kết quả tốt nhất nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức cũng như thực hiện nhu cầu của bản thân. Mối quan hệ biện chứng giữa thi đua và khen thưởng Thi đua và khen thưởng có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít và tác động biện chứng với nhau. Nói về mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch. “Gieo trồng” có thể hiểu là hành động tự nguyện, tự giác, là quá trình phấn đấu của mỗi cá nhân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc; còn “thu hoạch” là những thành quả đạt được qua quá trình nỗ lực phấn đấu của mỗi cá nhân, tập thể.
Mối quan hệ biện chứng giữa thi đua và khen thưởng được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: Thứ nhất, thi đua là tiền đề của khen thưởng, tạo nên thành tích để khen thưởng. Thông thường, khi phát động, tổ chức một phong trào thi đua sẽ gắn liền với điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng. Bởi, qua hoạt động thi đua, mỗi cá nhân, tổ chức sẽ phát huy trí tuệ, sức sáng tạo, sự đoàn kết để đạt được những mục đích mà tổ chức hướng tới. Những công sức, hành động của mỗi cá nhân, tập thể sẽ tạo nên các thành tích đạt được, từ những thành tích đó sẽ là cơ sở để tổ chức, nhà quản lý xét chọn những cá nhân, tập thể tiêu biểu xuất sắc nhất để khen thưởng.
Ở đâu có phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp thì số lượt khen thưởng nhiều và ngược lại nếu không có phong trào thi đua hoặc phong trào thi đua yếu, chưa có sức lan tỏa thì nơi đó khen thưởng không chuẩn xác, không có khen thưởng. Tùy vào hình thức thi đua sẽ có hình thức khen thưởng phù hợp (tặng cờ, giấy khen, bằng khen, chứng nhận,. Thứ hai, khen thưởng là động lực của thi đua, là bước tiếp sau của thi đua, kết quả của thi đua, phản ánh chất lượng và hiệu quả của thi đua, là nhân tố thúc đẩy thi đua phát triển. Tập thể, cá nhân được khen thưởng cảm thấy vinh dự, tự hào, 17 Luan van được trân trọng sẽ cố gắng, tích cực trong các công việc được giao và sẽ khích lệ mọi người cùng tham gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò quan trọng của khen thưởng trong thi đua: “Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi” [34, tr. Khen thưởng còn nhằm dẫn dắt phong trào thi đua, là định hướng phát triển xã hội. Thực tiễn cho thấy, nơi nào thực hiện việc xét khen thưởng chính xác, công bằng, đúng người, đúng việc sẽ động viên, khuyến khích, giáo dục, nêu gương và nhân rộng các điển hình tiên tiến, tạo sức lan tỏa trong từng tổ chức, từ đó cổ vũ động viên mọi cá nhân học tập và noi theo, tạo tiền đề cho các phong trào thi đua khác phát triển như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Vì khen thưởng khuyến khích rất nhiều, vì khen thưởng là tổng kết và phổ biến kinh nghiệm ra cho mọi ngành hoạt động” [35, tr. Ngược lại, khi khen thưởng mang tính chất cào bằng, khen thưởng tràn lan, thiếu sự chính xác, công khai, khen thưởng không kịp thời hoặc chỉ có thi đua mà không có khen thưởng sẽ kìm hãm thi đua, khiến tổ chức, cá nhân không có động lực để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu thi đua đã đề ra, làm mất niềm tin của cá nhân, tổ chức.
Không nghiêm minh trong khen thưởng thì phong trào thi đua không thể trở thành động lực phát triển, mà dẫn đến bệnh thành tích trong thi đua. Bên cạnh mối quan hệ biện chứng, giữa thi đua và khen thưởng có sự độc lập, không phụ thuộc vào nhau. Khi tham gia phong trào thi đua, mục tiêu cuối cùng mà tổ chức, cá nhân hướng tới không phải để được khen thưởng mà chính là kết quả trong thực hiện công việc, khẳng định năng lực, sự cống hiến cho tổ chức. Ngược lại, có những hình thức khen thưởng không phản ánh kết quả trực tiếp từ phong trào thi đua nhưng cũng có quan hệ nhất định với thi đua, ảnh hưởng từ phong trào thi đua, phản ánh một góc của các phong trào thi đua như: khen đột xuất, khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến, khen thưởng cống hiến, khen thưởng trong công tác đối ngoại.
Tuy nhiên, không thể coi trọng thi đua hay khen thưởng, giữa thi đua và khen thưởng luôn có sự tác động, bổ sung hỗ trợ cho nhau, là động lực trong phát triển 18 Luan van kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội, là cơ sở để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: thi đua và khen thưởng là công tác động viên chính trị, giáo dục tư tưởng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đều là động lực phát triển xã hội theo hướng tốt đẹp hơn. Tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thƣởng 1. Khái niệm và đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về thi đua, khen thưởng Khái niệm pháp luật về thi đua, khen thưởng Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, cũng như nhà nước, pháp luật là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Pháp luật và nhà nước luôn có mối quan hệ khăng khít, cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển.
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật. Bởi, pháp luật là “hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước” [19, tr. Vì vậy, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực khi thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, tác động tới xã hội bằng phương tiện đặc thù, đó là pháp luật.
Pháp luật là ý chí của nhân dân được thể hiện dưới dạng các văn bản quy phạm. Đối với các quá trình quản lý, pháp luật không chỉ điều chỉnh, tác động mang tính pháp lý lên các quan hệ xã hội, mà còn là một phương tiện quan trọng để hoàn thiện tổ chức quá trình đó. “Xưa nay, pháp luật bao giờ cũng là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói quen. Chuẩn mực càng khó bao nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng bấy nhiêu.
Vì vậy, không thể buông lỏng pháp luật nếu việc này chưa được chuẩn bị bằng sự tiến bộ đạo đức” [22, tr.