MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ. Nó có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Nghiên cứu về các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn lớn lao.
Nắm đƣợc đặc điểm, bản chất của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp là cơ sở để bố trí hợp lý không gian công nghiệp phù hợp với các điều kiện phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, từng miền, từng vùng. nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất thông qua sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng nhƣ tiết kiệm chi phí trong hoạt động sản xuất. Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp đã và đang đƣợc quan tâm một cách rộng rãi. Nó đƣợc xem nhƣ một giải pháp phát triển công nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế - xã hội nói chung.
Các nhà khoa học đã đƣa ra một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cơ bản. Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, tạo động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế - xã hội phát triển nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia. Ở Việt Nam, trƣớc thập kỉ 90 của thế kỉ XX hầu nhƣ chƣa có các nghiên cứu về các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Năm 1994, Viện Chiến lƣợc phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ) đƣa ra 6 hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam là: điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm công nghiệp, dải công nghiệp, địa bàn công nghiệp trọng điểm; còn Viện chiến lƣợc phát triển (Bộ Công Thƣơng) thì đƣa ra phƣơng án 6 vùng công nghiệp và đƣợc Chính phủ phê duyệt; bƣớc đầu đã góp phần hoàn thiện bức tranh không gian tổ chức lãnh thổ của nền kinh tế - xã hội nƣớc ta.
Tuy nhiên, giữa các quốc gia khác nhau, trên bình diện lãnh thổ rộng lớn, các khái niệm về các hình thức tổ chức lãnh thổ còn vênh nhau. Đơn cử nhƣ khái niệm về “cụm công nghiệp”, “khu công nghiệp”… Ở Nghệ An, khái niệm tổ chức lãnh thổ công nghiệp chƣa đƣợc nghiên cứu luan an 3 sâu và mới chỉ mang tính chất qui hoạch. Do đó, đề tài “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An” đƣợc phát triển theo hƣớng chuyên sâu, chuyển từ mức độ định tính đơn giản sang định lƣợng với mong muốn xây dựng một mô hình tổ chức lãnh thổ công nghiệp của tỉnh sao cho mang lại hiệu quả cao nhất, góp phần vào định hƣớng phát triển tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Trên thế giới, vấn đề tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian các hoạt động phát triển của con ngƣời, trƣớc hết là hoạt động kinh tế, bắt nguồn từ những cơ sở lý thuyết kinh tế của Adam Smith (Lý thuyết bàn tay vô hình) và David Ricardo (Qui luật lợi thế so sánh) [trong 18].
Từ các công trình nghiên cứu của V.Thunen vào năm 1826 [trong 49], của A.Weber vào năm 1909 [90] đến “Lý thuyết của thành phố trực thuộc trung ƣơng” (V.Christaller) [87], học thuyết khu kinh tế (IG. Kolososkij), học thuyết phân chia địa lý của lao động (M. Baranskij) [trong 86]… Các nhà địa lý kinh tế - xã hội nghiên cứu kinh tế lãnh thổ, phát hiện những vấn đề có tính qui luật và đúc rút chúng thành những lí thuyết phát triển kinh tế và không gian kinh tế của sự phát triển. Quan sát cuộc sống của cộng đồng trên các lãnh thổ, thể hiện qua các hành vi địa lí nhƣ sự trao đổi hàng hóa giữa ngƣời sản xuất và tiêu dùng tại các “đầu ra”, “đầu vào”, các “nút” trung tâm và ngoại vi, nhà khoa học ngƣời Đức V.
Thunen đã nẩy sinh ý tƣởng về phát triển chuyên môn hóa nông nghiệp. Từ đây ông đề xuất “Lý thuyết vành đai giữa trung tâm và ngoại vi”, trên cơ sở phân tích những yếu tố định vị về địa tô chênh lệch, về mối quan hệ trong trao đổi hàng hóa… Ông cho rằng “thành phố là trung tâm của thị trƣờng” [trong 49, 80]. Ý tƣởng địa tô chênh lệch giữa các lãnh thổ về sau này đƣợc coi nhƣ nhân tố chìa khóa trong sự phân chia lãnh thổ đồng nhất của một quốc gia thành các vùng đất khác nhau cho mọi chủ thể kinh tế - xã hội. Mô hình này bƣớc đầu thể hiện ý thức tổ chức lãnh thổ.
Đƣợc đề xuất bởi học giả Anfred Weber (1909), lý thuyết khu vị luận công nghiệp giải thích sự tập trung công nghiệp vào lãnh thổ do 3 nguyên nhân chủ yếu: 2 yếu tố đầu là chi phí vận tải rẻ nhất và chi phí nhân công thấp nhất là những yếu tố lãnh luan an 4 thổ chung nhất để xác định mô hình định vị và cơ cấu địa lí, thứ 3 là các lực tích tụ và không tích tụ - đó là những yếu tố địa phƣơng xác định mức độ phát tán trong khung chung. Nhƣng quan trọng hàng đầu trong định vị vẫn là yếu tố chi phí vận tải. Mục đích của sự định vị công nghiệp tập trung là để “cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận” [90, trong 27]. Weber là ngƣời đầu tiên nghiên cứu lý thuyết tổng hợp về định vị công nghiệp, đƣa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp.
Trên cơ sở những ý tƣởng của Thunen và Weber, khoảng gần 100 năm sau, tức năm 1903 khi đã hình thành nhiều không gian công nghiệp thƣờng kéo theo là các không gian đô thị, nhà khoa học ngƣời Mỹ W. Christaller đề xuất “lý thuyết về điểm trung tâm”. Do sự cạnh tranh trong phát triển cùng với lý thuyết về chi phí nhỏ nhất và thu lợi lớn nhất nên đã hình thành nhiều điểm trung tâm với qui mô kích cỡ khác nhau [87, trong 85, 83]. Lý thuyết trung tâm của Christaller sau này đã đƣợc nhà bác học ngƣời Đức A.
Losh bổ sung và phát triển: giữa các trung tâm có mức độ phụ thuộc khác nhau. Thành phố quan trọng nhất trong hệ thống là đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dân cƣ, vai trò thƣơng mại dịch vụ của nó khống chế các vùng phụ cận [trong 85, 27]. Từ các lý thuyết trên đây đã hình thành lý thuyết mang tính qui luật trong phân bố không gian trong nghiên cứu phân cấp đô thị, xác định các nút trọng điểm trong một lãnh thổ nhất định. Nhà kinh tế học ngƣời Pháp, Francoi Perroux đƣa ra lí thuyết cực phát triển vào đầu những năm 50 của thế kỉ XX.
Lí thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trƣởng kinh tế của lãnh thổ [trong 88]. Lí thuyết cực phát triển đƣợc cải biên qua các thời kì, sau đó đã đƣợc một số tác giả nhƣ Albert, O. Hirshman, Gunnar Myrdal, Friedmann tổng hợp lại. Lí thuyết này cho rằng công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trƣởng của vùng.
Đi kèm theo với điểm phát triển tăng trƣởng là một “nhân” công nghiệp then chốt. Ngành công nghiệp then chốt phát triển và phát đạt thì lãnh thổ địa phƣơng nơi nó phân bố cũng phát triển và phát đạt, do công ăn việc làm tăng nên thu nhập và sức mua của dân cƣ cũng tăng lên, các ngành công nghiệp và các hoạt động mới bị thu hút vào vùng đó [trong 27, 35]. Trên cơ sở lực hút và lực đẩy của mỗi trung tâm mà hình thành nên luan an 5 vùng ảnh hƣởng của nó tới xung quanh. Đây là lí thuyết giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hƣớng phát triển có trọng điểm.
Trong số các lý thuyết của trƣờng phái Xô Viết, đáng chú ý chu trình sản xuất năng lƣợng của Kolososkij (1947), theo ông: “chu trình năng lƣợng đƣợc hình thành trên cơ sở một loại tài nguyên chủ yếu kết hợp với một nguồn năng lƣợng để tổ chức sản xuất theo một quy trình hoàn chỉnh”. Kế thừa tƣ tƣởng này, nhiều nhà địa lý Xô viết đã bổ sung, hoàn thiện và đƣa ra chu trình sản xuất năng lƣợng EPS) bao gồm: EPS kim loại đen, EPS kim loại màu, EPS nhiên liệu cứng (than đá, dầu), EPS hoá học quặng mỏ, EPS hoá học kim loại hiếm, EPS công nghiệp dầu khí, EPS silicat, EPS kĩ thuật thuỷ lợi, EPS sử dụng nhiệt năng dƣới sâu, EPS công nghiệp gỗ, EPS nông - công nghiệp, EPS đại dƣơng, EPS công nghiệp chế biến và EPS sinh hoá [trong 49]. Từ các lý thuyết về tổ chức lãnh thổ và thực tiễn phát triển, phân bố của ngành công nghiệp, các nhà địa lý đã đƣa ra những ý tƣởng và đề xuất về khái niệm tổ chức lãnh thổ công nghiệp cũng nhƣ hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Mặc dù khái niệm và các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới có những nét khác nhau nhƣng đều hƣớng tới mục đích khai thác lãnh thổ một cách tối ƣu và nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp.
Tại Liên Xô, ý tƣởng tập trung các lực lƣợng sản xuất trong một lãnh thổ nhất định với mục tiêu tối ƣu hóa việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của khu vực và phát triển toàn diện trong các điều kiện của nền kinh tế kế hoạch đƣợc thực hiện trong các mô hình của lãnh thổ - công nghiệp phức hợp (TIC) [trong 86]. Nhƣ vậy, từ năm 1920 trong các văn liệu khoa học, các TIC đã đƣợc xác định bởi các nhà khoa học Liên Xô - đó là các khu vực kinh tế: “Khu vực kinh tế là một lãnh thổ công nghiệp đảm bảo việc sử dụng đầy đủ nhất, hợp lí nhất của tự nhiên và các nguồn lực lao động của khu vực” (Kazanskij, 1970) [trong 86]. Cùng với sự biến đổi của hệ thống lãnh thổ sản xuất của Liên Xô, có sự cần thiết phải phân chia các tiểu vùng kinh tế, vì đảm bảo cho kế hoạch chính xác hơn, phục vụ cho sự phát triển của lãnh thổ. Kể từ đó, TIC đã đƣợc phân tích nhƣ một tế bào chủ yếu của khu vực luan an 6 kinh tế, từng bƣớc biến đổi từ một khái niệm khoa học vào một đối tƣợng của qui hoạch kinh tế và hình thành một hình thức tổ chức lãnh thổ của lực lƣợng sản xuất.
Nhƣ vậy, cùng với khái niệm “tổ chức lãnh thổ kinh tế”, thuật ngữ “tổ chức lãnh thổ sản xuất công nghiệp” đƣợc các nhà khoa học Xô Viết công nhận và sử dụng trong các tài liệu khoa học vào đầu những năm 60.