CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP, NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. KHÁI NIỆM CÔNG NGHIỆP, NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA 1. Khái niệm công nghiệp và ngành công nghiệp - Công nghiệp: là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp theo. - Ngành công nghiệp: là một bộ phận của nền kinh tế, ngành kinh tế quốc dân quan trọng nhất, có ảnh hưởng quyết định đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội với nhiệm vụ khai thác, chế biến tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm nông nghiệp thành tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.
- Phân loại công nghiệp: Công nghiệp gồm hai ngành: + Công nghiệp nặng: là ngành công nghiệp chuyên khai thác nguồn năng lượng, sản xuất các công cụ sản xuất và chuyển biến các nguyên liệu thành vật liệu. + Công nghiệp nhẹ: là ngành công nghiệp chuyển biến các vật liệu do công nghiệp nặng sản xuất thành những bán thành phẩm và hàng tiêu dùng. Ngoài ra, công nghiệp còn được phân thành hai loại: + Công nghiệp khai thác: là ngành khai thác các nguồn năng lượng và tài nguyên trên qui mô công nghiệp. + Công nghiệp chế biến: là ngành công nghiệp chuyển biến các sản phẩm của ngành công nghiệp khai thác thành các sản phẩm tiêu dùng (cho sản xuất và đời sống xã hội).
Các quan niệm về công nghiệp hóa: Trong thực tiễn, đến nay vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù HVTH: Huỳnh Mộng Nghi 123doc -6- “công nghiệp hóa”. Quan niệm đơn giản nhất về CNH cho rằng “CNH là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các loại công nghiệp…” [30, 520] Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử CNH ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong quá trình dài thực hiện CNH, các nước này chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình CNH, chứ không phải là đối tượng trực tiếp của CNH, do đó quan niệm này được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn vì nó không cho thấy mục tiêu của quá trình cần thực hiện và đã đồng nhất quá trình CNH với quá trình phát triển công nghiệp. Trong sách báo kinh tế của Liên Xô (trước đây) tồn tại một định nghĩa phổ biến cho rằng “CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiêp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp.
Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với các ngành trung tâm là chế tạo máy” [19-1], tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng tăng. Quan niệm này được coi là hợp lý trong điều kiện của Liên Xô thời kỳ nội chiến khi mà chủ nghĩa đế quốc bao vây toàn diện, nền tảng phát triển chỉ dựa vào thị trường trong nước nên phải tập trung phát triển công nghiệp nặng và hướng vào các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp nhằm đảm bảo các nhu cầu trong nước. Nhưng sẽ sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay. Gần đây, khi nhấn mạnh vai trò, vị trí của công nghiệp chế biến như một biểu hiện của phát triển công nghiệp ở trình độ cao, điều kiện bảo đảm hiệu quả sử dụng tài nguyên và trao đổi thương mại quốc tế… lại có ý kiến cho rằng “phát triển công nghiệp chế biến là bản lề của CNH” [19, 1].
Không thể phủ định vai trò của công nghiệp chế biến là nội dung bao trùm của quá trình CNH, nó có phạm vi rộng lớn, cơ cấu phức tạp. Phát triển công nghiệp chế biến đến thị trường sản phẩm ở đâu… đó là câu hỏi không thể có câu trả lời chung cho tất cả các nước. Năm 1993, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa sau đây: “CNH là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân động viên để phát triển HVTH: Huỳnh Mộng Nghi 123doc -7- kinh tế, trong quá trình này toàn bộ để phát triển chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội”. Quan niệm này cho thấy quá trình CNH bao gồm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự phát triển kinh tế mà còn cả sự tiến bộ về mặt xã hội nữa.
Quá trình CNH trong điều kiện hiện nay cũng gắn liền với quá trình hiện đại hóa các hoạt động kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, định nghĩa trên đây lại quá dài và phức tạp với ý tưởng dung hòa nhiều ý kiến khác nhau. Trong điều kiện hiện nay, quan niệm về CNH dù trên góc độ nào cũng không đồng nhất quá trình phát triển công nghiệp. Tuy quá trình CNH có những nét riêng đối với từng nước, nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính chất phổ biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng nước mà thôi.
CNH là quá trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây: - Thứ nhất, CNH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Đồng thời đây cũng là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại. Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của các nước đó với các nước phát triển. Hiện đại hóa, xét trên góc độ kinh tế - kỹ thuật, là cái đích cần vươn tới trong quá trình CNH, nhưng bị ràng buộc bởi yêu cầu bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội nên xét toàn cục, hiện đại hóa chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá trình CNH mà thôi.
- Thứ hai, quá trình CNH không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp mà là quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của đất nước. Đó là tất yếu vì nền kinh tế của mỗi nước là một hệ thống nhất các ngành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ tương đối với nhau. Do đó, quá trình CNH cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu ngành kinh tế. Trong sự chuyển dịch cơ cấu của quá trình CNH, vị trí của các ngành sẽ thay đổi.
Xét tổng thể, cơ cấu kinh tế của mỗi HVTH: Huỳnh Mộng Nghi 123doc -8- nước được cấu thành bởi ba loại ngành tổng hợp có quan hệ ràng buộc lẫn nhau: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước trong quá trình CNH sẽ trải qua hai giai đoạn: từ cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ chuyển sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ. - Thứ ba, quá trình CNH trong bất kỳ giai đoạn nào cũng đều vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Đây là hai quá trình có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, quá trình kinh tế-kỹ thuật cao tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế - xã hội.
Ngược lại, quá trình kinh tế - xã hội góp phần tạo nên động lực cho thực thiện quá trình kinh tế - kỹ thuật. Việc thực hiện có kết quả quá trình CNH sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, thấp kém về kinh tế. Đối với mỗi nước, CNH là quá trình lịch sử lâu dài.Rostow, sự phát triển của một đất nước trải qua 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị tiền đề cho cất cánh, cất cánh, tiến tới sự trưởng thành và tiêu dùng ở trình độ cao. Như vậy, quá trình CNH được khởi đầu bằng việc “chuẩn bị tiền đề cho cất cánh”, được thực hiện mạnh mẽ trong giai đoạn “cất cánh” và kết thúc khi xã hội đã “tiến tới sự trưởng thành”.
Khi đất nước đạt đến trình độ nhất định về kinh tế - kỹ thuật - xã hội, quá trình CNH sẽ kết thúc. - Thứ tư, quá trình CNH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế trở thành xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ nên việc xác định mục tiêu, phương thức CNH cần phải phân tích và dự đoán được những biến động kinh tế- xã hội chung của thế giới, đặc biệt là của các nước trong khu vực. - Thứ năm, CNH không phải là một mục đích tự thân, mà là một phương thức có tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước.
Tuy mỗi nước có hệ thống mục tiêu riêng nhưng về hình thức vẫn có thể tương đồng, đó là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại , khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, đảm bảo nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân cư. Mục tiêu cụ thể của mỗi nước phục thuộc vào quan HVTH: Huỳnh Mộng Nghi 123doc -9- điểm của hệ thống chính trị lãnh đạo. Phương hướng, qui mô và nhịp độ CNH phụ thuộc vào đặc điểm chính trị xã hội của đất nước. Từ toàn bộ những vấn đề đã đề cập trên đây, có thể rút ra kết luận khái quát về CNH như sau: CNH là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế-xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý với trình độ KHCN ngày càng hiện đại.
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA K.