Chương 1 TONG QUAN 1. Dat, đất đai, quan ly nhà nước về dat đai 1. Một số khái niệm dat, đất đai và các khái niệm liên quan a. Đất (Soil) Theo Dokuchaev (1879), đất là vật thé tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các yeu tố sinh vật, khí hậu, đá me, địa hình, thời gian và tác động của COn người.
Theo Karl Marx (1949), đất là tư liệu sản xuất cơ bản và quý báu của sản xuất nông nghiệp, điều kiên không thể thiếu được của sự tổn tại và tái sinh của hàng loạt thé hệ người kế tiếp nhau. Theo quan điểm kinh tế học, đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản suất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phâm lao động. Dat là mặt bằng dé phát triển nền kinh tế quốc dân. Dat đai (Land) Về mặt thuật ngữ khoa học có thể hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất dai” là một diện tích cụ thé của bề mặt trái đất, bao gồm tat cả các yếu tô cau thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thé nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hò, sông suối, đầm lay.), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng san trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vat, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa.
Như vậy, “đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thắng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyền, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều nam ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thé nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. Chức năng của đất đai Chức năng không gian sinh tồn; chức năng sản xuất; chức năng dự trữ; chức năng môi trường sinh vật; chức năng điều tiết khí hậu; chức năng kiểm soát ô nhiễm và chất thải; chức năng lưu truyền và thừa kế; chức năng không gian cho sự dịch chuyển của con người, thực vật, động vật trong thế giới tự nhiên. Đất đai được xem là tai sản của một Quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, đồng thời cũng là đối tượng của lao động và là sản phẩm của lao động. Trong bối cảnh hiện nay, các tác động của con người trong việc Khai thác và sử dụng đất đai hoàn toàn bị chi phối bởi các quy luật KT-XH được thé hiện rõ trong quá trình đô thị hóa (Trần Ngọc Ngà, 2020).
Sử dụng đất SDD là hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng. Theo FAO (1993), SDĐ được thực hiện bởi con người bao gồm các hoạt động cải tiến môi trường tự nhiên hoặc những vùng hoang vu vào sản xuất như đồng ruộng, đồng cỏ hoặc xây dựng các khu dân cư. Thực chất của SDD là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa con người và đất đai. Có nhiều kiều SDĐ bao gồm: sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ, g6 rừng), sử dụng trên cơ sở gián tiếp (chăn nuôi), SDD vì mục đích bảo vệ và theo chức năng đặc biệt như đường xá, dân cư, công nghiệp (Đào Châu Thu, 1998).
Như vậy, SDĐ được xác định bởi yếu tố con người. Con người tác động làm thay đổi tính năng của đất đai đồng thời tạo thêm tính năng của đất đai e. Loại hình sử dụng đất (Land Use Type-LUT) Là loại hình sử dụng đất được mô tả hoặc được xác định chi tiết hơn loại hình sử dụng đất chính. Một loại hình sử dụng đất có thể là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trồng trong điều kiện kỹ thuật và KT-XH nhất định.
Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất bao gom các thông tin về sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm, đầu tư lao động, biện pháp kỹ thuật, yêu cầu về cơ sở hạ tang, mức thu nhập. Hệ thống sử dụng dat (Land Use System-LUS) Là những điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến năng suất và sự ôn định của loại sử dụng đất đai hay đến tình trạng quản lý và thực hiện loại SDĐ. Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu. Quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước có thâm quyền đề thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, đó là hoạt động nam chắc tình hình sử dung đất; phân phối và phân phối lại quỹ dat theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý sử dung đất, nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007).
Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý lẻ tẻ từng vùng. - Nội dung tải liệu quản ly không phụ thuộc vào mục đích sử dụng. - Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng mục phục vụ cho mục đích sử dụng đất của các loại đó. - Quản lý đất đai phải thé hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất trong toàn quốc.
- Những quy định, biểu mẫu phải được thống nhất cả nước, trong ngành địa chính. - Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất so sánh cả nước. - Tai liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước. - Những điều kiện riêng biệt của từng địa phương, cơ sở phải phản ánh được.
- Những điều kiện riêng lẻ phải khách quan, chính xác, đúng những kết quả, số liệu nhận được từ thực tế. - Tài liệu quản lý đất đai phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng thực - Quản lý nhà nước về đất đai phải trên cơ sở pháp luật, luật đất đai và các văn bản, biéu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ Trung ương đến địa phương. - Quản lý đất đai phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển bền vững. (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 22 Luật Dat đai năm 2013 như sau: - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quan lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dung giá đất. - Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quan lý việc giao dat, cho thuê dat, thu hồi đất, chuyền mục đích sử dụng đất.
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và quan lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. - Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. Quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất - Quy hoạch sử dụng đất như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai (Dent, 1988; 1993).
- Quy hoạch sử dụng đất như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác (Fresco va ctv, 1992). - Những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về QHSDD là hau hết đều đồng ý chú trong và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao. Do đó, QHSDĐ trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì (Mo hammed, 1999). - Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất là trung tâm (UNCED, 1992; trong FAO, 1993): đã đôi lại định nghĩa về QHSDĐ như sau: “Quy hoạch sử dụng đất là một tiến trình xây dựng những quyết định dé đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng dé cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995).
Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất dé làm sao nguồn tài nguyên đó được Khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai. Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trường có thé có của những sự lựa chọn là một yêu cầu đầu tiên cho tiến trình QHSDĐ thành công.