Tổng quan nghiên cứu

Khu hệ động vật hoang dã Việt Nam ghi nhận 20 loài thú móng guốc chẵn thuộc 12 giống và 5 họ, trong đó có tới 13 loài nằm trong danh mục nguy cấp, quý, hiếm được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Sách Đỏ Việt Nam. Tuy nhiên, áp lực từ nạn săn bắt trái phép, chia cắt sinh cảnh và khai thác lâm sản quá mức đã khiến quần thể các loài thú lớn suy giảm nghiêm trọng, đẩy nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng sinh thái cục bộ.

Nghiên cứu được thực hiện tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa – khu vực có tổng diện tích rừng đặc dụng quản lý trên 17.669 ha trải dài trên địa giới hành chính của 9 xã thuộc hai huyện Quan Hóa và Bá Thước. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện hiện trạng quần thể, xác định quy luật phân bố không gian và mức độ trùng lặp ổ sinh thái của các loài thú móng guốc chẵn làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch bảo tồn và phục hồi sinh cảnh.

Khảo sát thực địa được triển khai trong mùa đông từ tháng 12/2016 đến tháng 02/2017 trên phạm vi 32 tiểu khu rừng trọng yếu. Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ số liệu định lượng về 3 loài phân bố chủ lực gồm Lợn rừng (Sus scrofa), Hoẵng (Muntiacus muntjak) và Sơn dương (Capricornis milneedwardsii). Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi xác lập cơ sở dữ liệu nền tảng, hỗ trợ ban quản lý thiết lập các phân khu ưu tiên bảo tồn với diện tích hơn 4.500 ha, góp phần giảm thiểu trên 40% các tác động tiêu cực từ hoạt động nhân sinh lên sinh cảnh sống của thú rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết ổ sinh thái của Hutchinson kết hợp với Lý thuyết lựa chọn sinh cảnh trong sinh thái học động vật nhằm phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa động vật và môi trường sống. Mô hình phân tích tập trung vào sự phân hóa không gian sống dựa trên các trục biến đổi sinh thái chính.

Năm khái niệm cốt lõi được ứng dụng xuyên suốt bao gồm:

  1. Thú móng guốc chẵn (Artiodactyla): Nhóm thú ăn thực vật hoặc ăn tạp di chuyển trên mặt đất, giữ vai trò sinh vật tiêu thụ sơ cấp điều tiết cân bằng động hệ sinh thái.
  2. Ổ sinh thái không gian: Phạm vi giới hạn vật lý và môi trường mà loài có thể tồn tại và duy trì quần thể ổn định.
  3. Độ rộng ổ sinh thái: Mức độ đa dạng của các yếu tố môi trường mà một loài khai thác sử dụng.
  4. Hệ số trùng lặp ổ sinh thái: Chỉ số định lượng mức độ chia sẻ tài nguyên và không gian cư trú giữa các loài cùng bậc sinh dưỡng.
  5. Cường độ gây nhiễu: Áp lực từ các hoạt động khai thác tài nguyên, nương rẫy và bẫy bắt của con người tác động lên sinh cảnh tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp từ điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn sâu người dân địa phương tại 32 bản làng xung quanh khu bảo tồn.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu đã thiết kế tổng cộng 35 tuyến khảo sát với tổng chiều dài 84.130 m (tương đương 84,13 km). Trong đó, 21 tuyến khảo sát được bố trí tại sườn núi đá vôi phía Đông Bắc và 14 tuyến tại sườn núi đất phía Tây Nam nhằm bao phủ toàn bộ các dạng địa hình và sinh cảnh đại diện. Dọc theo các tuyến, khi phát hiện cá thể hoặc dấu vết phân, dấu chân, vết cọ xát, nhóm khảo sát định vị tọa độ bằng GPS và lập ô tiêu chuẩn kích thước 10m x 10m (diện tích 100 m²) để đo đếm 8 yếu tố hoàn cảnh gồm: độ cao tuyệt đối, độ dốc, hướng phơi sườn dốc, cự ly đến nguồn nước mặt, kiểu thảm thực vật, độ tàn che, độ che phủ tầng cây bụi thảm tươi và cường độ gây nhiễu.

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê sinh thái học và Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis - PCA). Việc lựa chọn phương pháp PCA xuất phát từ tính ưu việt trong việc giảm chiều dữ liệu từ 8 biến môi trường phức tạp xuống 2-3 thành phần chính mang tính đại diện cao nhất, loại bỏ hiện tượng đa cộng tuyến và làm rõ trọng số của từng nhân tố chi phối tập tính chọn nơi cư trú của từng loài mà không làm mất thông tin gốc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa khẳng định sự tồn tại chắc chắn của 3 loài thú móng guốc chẵn tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông: Lợn rừng (Sus scrofa), Hoẵng (Muntiacus muntjak) và Sơn dương (Capricornis milneedwardsii). Hai loài từng được ghi nhận trong lịch sử là Nai (Rusa unicolor) và Bò tót (Bos frontalis) không tìm thấy dấu vết trực tiếp ngoài thực địa.

Quy luật phân bố theo đai cao và địa hình thể hiện sự chuyên hóa rõ rệt giữa các loài:

  1. Sơn dương xuất hiện 100% tại dãy núi đá vôi phía Đông Bắc ở đai cao từ 700 m đến trên 1.000 m, đặc biệt ưa thích sườn vách đá dốc hiểm trở trên 35 độ.
  2. Hoẵng phân bố đồng đều hơn ở cả hai dãy núi, ghi nhận nhiều nhất ở đai cao từ 400 m đến 800 m với tần suất bắt gặp chiếm 58,3% tổng số điểm ghi nhận.
  3. Lợn rừng có phạm vi thích nghi rộng nhất, xuất hiện từ các thung lũng thấp 200 m đến các đỉnh núi cao 1.200 m. Khoảng 68,5% dấu vết Lợn rừng và Hoẵng tập trung ở cự ly cách nguồn nước suối dưới 500 m.

Phân tích độ rộng và hệ số trùng lặp ổ sinh thái cho thấy Lợn rừng sở hữu độ rộng ổ sinh thái lớn nhất, tiếp đến là Hoẵng và hẹp nhất là Sơn dương. Hệ số trùng lặp không gian giữa Hoẵng và Lợn rừng đạt mức 0,58, trong khi sự trùng lặp giữa Sơn dương với hai loài còn lại duy trì ở mức thấp (dưới 0,25).

Cường độ tác động nhân sinh ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố: Tần suất bắt gặp dấu vết của cả 3 loài giảm tới hơn 72% tại các khu vực rừng có khoảng cách dưới 1.000 m tính từ ranh giới nương rẫy và khu dân cư.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa ổ sinh thái bắt nguồn từ đặc điểm thích nghi hình thái và tập tính dinh dưỡng. Sơn dương với cấu tạo đế guốc chuyên hóa dạng giác hút có thể di chuyển vững chắc trên các vách đá vôi tai mèo cheo leo, giúp chúng khai thác sinh cảnh hiểm trở nơi các loài thú ăn thịt và con người khó tiếp cận. Ngược lại, Lợn rừng là loài ăn tạp và ủi đất, cần đất mềm tại thung lũng ẩm và rừng phục hồi sau khai thác để tìm kiếm rễ củ, côn trùng. Hoẵng là loài ăn chọn lọc chồi non và cành lá mềm, ưu tiên sinh cảnh rừng thứ sinh nhiều tầng tán rậm rạp.

Dữ liệu phân bố được tổng hợp trực quan qua các bảng ma trận nhân tố PCA và hệ thống biểu đồ cột so sánh tần suất xuất hiện theo 5 đai cao và 4 cấp độ dốc. Đồ thị phân tán PCA làm nổi bật hai trục thành phần chính: trục địa mạo - vi khí hậu (độ dốc, đai cao) chi phối mạnh nhất đến Sơn dương; trục sinh khối thực vật và nhiễu loạn (độ che phủ, khoảng cách nguồn nước, áp lực con người) chi phối trực tiếp đến Hoẵng và Lợn rừng.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các công bố sinh thái học tại vùng núi đá vôi phía Bắc, củng cố nhận định rằng hệ sinh thái karst Pù Luông là sinh cảnh sống cốt lõi, không thể thay thế của quần thể Sơn dương tại miền Bắc Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm quản lý và phục hồi bền vững quần thể thú móng guốc chẵn:

  1. Thiết lập phân khu bảo vệ nghiêm ngặt đối với sinh cảnh núi đá vôi: Quy hoạch dứt điểm 4.500 ha rừng đặc dụng tại các tiểu khu 250, 251, 252 (khu vực giáp ranh Phú Lệ - Lũng Cao) và tiểu khu 262, 265 (xã Cổ Lũng). Đây là vùng lõi tập trung hơn 80% dấu vết Sơn dương. Thời gian hoàn thành phê duyệt và cắm mốc ranh giới trước quý IV/2018 dưới sự chỉ đạo của Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa.

  2. Tăng cường tuần tra, gỡ bỏ bẫy bắt và triệt phá lán trại thợ săn: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Hạt Kiểm lâm và tổ tuần tra cộng đồng tổ chức tối thiểu 12 đợt tuần tra chuyên đề mỗi quý dọc theo 35 tuyến trọng điểm. Mục tiêu tháo gỡ 100% bẫy dây, bẫy kẹp và xử lý triệt để tình trạng mang súng tự chế vào rừng trong giai đoạn 2018-2020.

  3. Phục hồi sinh cảnh và trồng bổ sung cây thức ăn bản địa: Thực hiện khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng trên diện tích 500 ha nương rẫy cũ và rừng tre nứa thoái hóa tại các thung lũng. Ưu tiên gieo ươm các loài cây cung cấp quả, chồi non bản địa nhằm mở rộng hành lang kiếm ăn cho Hoẵng và Lợn rừng, triển khai từ năm 2018 đến 2022.

  4. Nâng cao sinh kế và giảm phụ thuộc tài nguyên rừng cho cộng đồng vùng lõi: Hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế, nông nghiệp sinh thái và phát triển du lịch cộng đồng cho 387 hộ dân (1.822 nhân khẩu) sống tại 8 bản khó khăn như bản Kịt, Cao Hoong, Son, Bá, Mười. Đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân đầu người từ 500.000 đồng/tháng lên 1.500.000 đồng/tháng, giảm 50% số vụ xâm nhập rừng trái phép vào năm 2020 do Ủy ban nhân dân hai huyện Bá Thước và Quan Hóa chủ trì phối hợp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cán bộ kiểm lâm và quản lý tài nguyên rừng có thể ứng dụng trực tiếp quy trình điều tra theo tuyến 84 km và bản đồ phân vùng ưu tiên để xây dựng phương án tuần tra SMART, giám sát đa dạng sinh học định kỳ.

  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu lâm nghiệp: Các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học có thể sử dụng đề tài làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu về phương pháp PCA và phân tích ổ sinh thái động vật hoang dã.

  3. Học viên cao học và sinh viên ngành Sinh thái học: Nguồn tư liệu tham khảo thực tế về cấu trúc một công trình nghiên cứu định lượng thực địa, phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn 100 m² và kỹ thuật nhận dạng dấu vết thú ngoài tự nhiên.

  4. Các tổ chức phi chính phủ bảo tồn thiên nhiên: Các chuyên gia thiết kế dự án thuộc các tổ chức bảo tồn có thể khai thác số liệu về hiện trạng quần thể Sơn dương để lập đề xuất tài trợ cho các chương trình bảo tồn loài nguy cấp tại hành lang sinh thái Karst Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn đã xác định được chính xác bao nhiêu loài thú móng guốc chẵn tại Pù Luông? Nghiên cứu khẳng định sự tồn tại chắc chắn của 3 loài qua dấu vết thực địa là Lợn rừng, Hoẵng và Sơn dương. Loài Nai chỉ ghi nhận qua mẫu sừng cũ lưu giữ trong dân gian, trong khi Bò tót đã không còn xuất hiện ngoài tự nhiên tại khu bảo tồn.

  2. Vì sao Sơn dương chỉ tập trung ở vùng núi đá phía Đông Bắc? Do đặc tính sinh học chuyên hóa cao, Sơn dương sở hữu cấu tạo móng vuốt có giác hút mềm giúp di chuyển linh hoạt trên các vách đá vôi dốc đứng trên 35 độ. Dãy núi đá Đông Bắc cung cấp nhiều hang hốc trú ngụ kín đáo và nguồn thức ăn cây bụi đặc trưng mà núi đất Tây Nam không có.

  3. Phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) mang lại giá trị gì cho nghiên cứu? PCA giúp gom nhóm 8 biến môi trường phức tạp thành các trục thành phần đại diện rõ rệt. Nhờ đó, nghiên cứu định lượng chính xác mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố như độ cao, độ dốc hay cự ly nguồn nước đối với việc lựa chọn nơi ở của từng loài thú.

  4. Hoạt động của cộng đồng dân cư ảnh hưởng ra sao đến các loài thú móng guốc? Sự hiện diện của 18.201 hộ dân với các hoạt động chăn thả gia súc, làm nương và săn bắn tạo áp lực nhiễu loạn rất lớn. Dữ liệu thực nghiệm chứng minh tần suất bắt gặp thú giảm hơn 70% tại các khu vực rừng nằm trong bán kính 1.000 m gần bản làng.

  5. Giải pháp ưu tiên hàng đầu để bảo vệ quần thể Sơn dương tại Pù Luông là gì? Giải pháp cốt lõi là thành lập ngay phân khu bảo vệ nghiêm ngặt diện tích 4.500 ha tại các tiểu khu trọng điểm của xã Cổ Lũng và Phú Lệ, kết hợp các đội tuần tra chuyên trách để gỡ bỏ toàn bộ bẫy dây và ngăn chặn triệt để tình trạng săn bắn trộm.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện hiện trạng và quy luật phân bố của 3 loài thú móng guốc chẵn (Sus scrofa, Muntiacus muntjak, Capricornis milneedwardsii) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.
  • Khảo sát thực địa chi tiết trên 35 tuyến với tổng chiều dài 84.130 m qua 32 tiểu khu, làm sáng tỏ sự phân hóa ổ sinh thái không gian theo độ cao, độ dốc và mức độ tác động nhân sinh.
  • Ứng dụng thành công phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) và chỉ số Pianka để định lượng hóa các nhân tố sinh cảnh chi phối hành vi cư trú của từng loài.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ quy hoạch phân khu 4.500 ha, tuần tra kiểm soát bẫy bắt, phục hồi 500 ha sinh cảnh đến phát triển sinh kế cho 387 hộ dân vùng lõi.
  • Giai đoạn 2018-2022 cần tập trung nguồn lực thực thi quy hoạch vùng bảo vệ nghiêm ngặt và lắp đặt hệ thống bẫy ảnh tự động giám sát biến động quần thể.

Để bảo tồn hiệu quả các loài thú móng guốc chẵn quý hiếm và duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái rừng Pù Luông, Ban quản lý Khu bảo tồn, chính quyền địa phương và các tổ chức bảo tồn cần nhanh chóng hiện thực hóa các khuyến nghị khoa học của công trình này vào kế hoạch hành động thực tế.