CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dân số Việt Nam 1. Tình hình phát triển dân số Việt Nam Việt Nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triên dân số ngày càng nhanh. Năm 2000 dân số Việt Nam đạt 77,68 triệu người đứng thứ 2 ở Đông Nam Á chỉ sau Inđônêxia và xếp thứ 13 trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới.
Tại thời điểm 1/4/2009 dân số Việt Nam đạt 85.573 người, năm 2013 đạt 89.900 người, đến thời điểm tháng 12 năm 2014 đạt 91. Ở Việt Nam mật độ dân số năm 2014 là 276 người/km), gần gấp 1,5 lần mật độ dân số của Trung Quốc (137 người/km?) — nước đông dân nhất thế giới. Từ năm 2006 Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế và liên tục từ đó đến nay chúng ta luôn ở dưới mức sinh thay thế. Từ năm 2009 đến năm 2013 tỷ suất sinh thô đã giảm từ 17,6% xuống còn 17,05%.
Tỷ lệ tăng dân số bình quân vẫn ở mức 1,2% mức thấp nhất trong nửa thế kỷ qua. Kết quả của công tác giảm sinh đã làm thay đôi rõ rệt cơ cấu tuổi của dân số. Việt Nam bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng là tiền đề tạo lợi thé so sánh về nguồn nhân lực dé nền kinh tế phát triển [19]. Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam Theo kết quả điều tra về dân số của Tổng cục thống kê, tổng tỷ suất sinh (TFR) có xu hướng giảm từ 2,23 con/phụ nữ năm 2004 xuống còn 1,99 con/phụ nữ năm 2011 nhưng đến năm điều tra 2013, TFR đạt 2,10 con/phụ nữ [19].
Nhìn vào bảng dưới đây ta có thê thấy năm đầu tiên ban hành pháp lệnh dân số (2003) TFR có biểu hiện giảm nhưng lại tăng lên ngay vào năm tiếp theo, cho đến năm 2006 sau 3 năm thi hành pháp lệnh dân số, TER của Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế và tiếp tục ở dưới mức sinh thay thế từ đó cho đến nay.8 T T T I T T 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Nguồn: Tổng cục thông ké: Diéu tra BDDS 2013[12] Hinh 1.1: TFR cia Viét Nam qua các thời kỳ Cũng theo kết quả của cuộc diéu tra nay, TFR cia khu vue thanh thị năm 2013 là 1,86 con/phụ nữ thấp hơn con số 2,21 con/phụ nữ của khu vực nông thôn. Sự khác biệt này là so với những cặp vợ chồng ở nông thôn, các cặp vợ chồng ở thành thị được tiếp cận tới các nguồn thông tin đễ dàng hơn, có nhận thức tốt hơn về lợi ích của gia đình ít con và đễ dàng tiếp cận các cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ KHHGĐ hơn, giúp họ tránh mang thai và sinh con ngoài ý muốn. Một lý do nữa là nhờ điều kiện sống ở khu vực thành thị tốt hơn khu vực nông thôn, do đó trẻ em ở thành thị được chăm sóc tốt hơn trẻ em nông thôn, dẫn đến tỷ lệ chết sơ sinh và chết trẻ em ở thành thị thấp hơn ở nông thôn, góp phần làm giảm nhu cầu sinh thay thế ở khu vực này [19]. Trong thập niên đầu của thế kỷ 21, TRE ở khu vực nông thôn giảm khá nhanh từ 2,38 con/phụ nữ năm 2001 xuống còn 2,14 con/phụ nữ năm 2009, gần đạt mức sinh thay thế; trong cùng thời gian này, TRE của khu vực thành thị hầu như không thay đổi đáng kế xung quanh mức 1,80 con/phụ nữ.
Do TER năm 2013 tăng lên 2,10 con/phụ nữ nên TFR của khu vực thành thị và nông thôn tăng nhẹ so với năm 2012 [19]. Trong những năm trước đây, TER ở khu vực nông thôn ở mức cao nên tốc độ giảm sinh thường đạt mức cao, nhưng khi mức sinh đã xuống thấp tới gần mức sinh thay thế thì tốc độ giảm sinh dần chậm lại. Theo kết quả điều tra Biến động dân số năm 2013 cho thấy, trong những năm qua, Tây Nguyên luôn là vùng có mức sinh cao nhất nước, tiếp theo là Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Hai vùng có mức sinh thấp là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long [19].
Chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế- xã hội là nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng. Thực trạng sinh con thứ 3 tại Việt Nam Trong năm thập kỷ qua, Việt Nam thực hiện chính sách giảm sinh thông qua chương trình dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm ca KHHGD. Chính vì vậy, số liệu liên quan đến tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên hàng năm là mối quan tâm lớn của các cơ quan truyền thông DS-KHHGĐ. Theo kết quả điều tra biến động dân số năm 2013 cho thấy trong thời gian qua tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên trên phạm vi cả nước giảm từ 20,8 năm 2005 xuống còn 14,3 năm 2013.
Tỷ lệ phụ nữ thôi không sinh thêm con sau khi có từ l đến 2 con ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng lên, đặc biệt ở khu vực thành thị góp phần tích cực làm giảm mức sinh ở Việt Nam. Xu hướng này giúp Việt Nam có cơ hội ôn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc, tạo thời cơ thuận lợi cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và chất lượng [19]. Một số mục tiêu cụ thể của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đặt ra trong 10 năm tới là : -_ Đáp ứng đầy đủ nhu cầu KHHGĐ của nhân dân, dé số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (tổng tỷ suất sinh) đạt mức 1,8 con/phụ nữ; quy mô dân số không quá 98 triệu người vào năm 2020. -_ Khống chế tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh, phấn đấu tỷ số này không vượt quá 115 vào năm 2020, tiễn tới đưa tỷ số này trở lại mức bình thường.
- Giảm mạnh phá thai, đưa tỷ số phá thai xuống 25/100 ca sinh sống vào năm 2020; cơ bản loại trừ phá thai không an toản. - Tang kha năng lồng ghép các biến đôi dân số vào hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời chính xác thông tin, số liệu về dân số đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành chương trình dân số, sức khỏe sinh sản, yêu cầu xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 các cấp, các ngành. Theo kết quả Tổng điều tra dân số, Điều tra biến động dân số, trong những năm qua, tỷ lệ sinh con thứ 3 đã giảm xuống chỉ còn 14,3% tính chung cho cả nước [19]. Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt về tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên theo vùng địa lý.
Những vùng có tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 thấp là Đông Nam Bộ (10,9%). Đồng bằng sông Cửu Long (12,4%) và Đồng bằng sông Hồng (13,2%). Tỷ lệ này cao nhất ở Tây Nguyên (27,4%), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (21,1%). Có thê rút ra được quy luật đó là những nơi có trình độ phát triển cao thì tỷ lệ sinh con thứ 3 càng thấp và ngược lại ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, cuộc sống còn có nhiều khó khăn thì tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 càng cao [19].
Trong những năm qua tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 có xu hướng giảm trên tất cả các vùng địa lý, riêng vùng Trung du và miền núi phía Bắc (Đông Bắc và Tây Bắc) và Tây Nguyên là có chiều hướng gia tăng. Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên theo vùng Vùng 2005 2006 2007 2008 2009 DB Sông Hông 17 14,7 13,7 13,8 13,2 Đông Bắc 19 17,1 15,0 14,7 18,7 Tay Bac 23 20,7 17,7 18,0 18,7 Bac Trung Bo 29 28,3 23,5 26,5 21,1 Nam Trung Bộ 23 22,4 21,8 19,4 21,1 Tay Nguyén 39 32,2 30,0 26,9 27,4 Đông Nam Bộ 17 14,3 13,8 14,4 10,9 ĐB Sông Cửu Long 16 13,9 12,6 12,6 12,4 Nguon: UNFPA: Thuc trang dân sô Việt Nam 2006; Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu 1. Dân số Hà Nội 1. Tình hình phát triển dân số Hà Nội Hà nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của cả nước nhưng công tác quản lý dân số vẫn còn nhiều bất cập.
Theo tài liệu của Cục thống kê thành phố Hà Nội, diện tích của Hà Nội là 3324,52 km? với dân số khoảng 7,2 triệu người. Mỗi năm dân số trên địa bàn tăng khoảng 200.000 người, trong đó có hơn 120.000 trẻ mới ra đời [3]. Sau 10 năm thực hiện pháp lệnh dân số, bên cạnh nhiều kết quả khả quan, công tac DS-KHHGD trên địa ban thành phố còn một vài hạn chế. Thể hiện ở chỗ sự phối hợp giữa các sở, ngành đoàn thể, tổ chức xã hội trong triển khai truyền thông, vận động, tư vấn chưa thực sự đều đặn.
Quy mô dân số lớn, địa bàn rộng, trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức và tâm lý muốn có nhiều con và thích con trai của đa số các cặp vợ chồng [10] Tính đến năm 2014, dân số Hà Nội đạt khoảng 7,2 triệu người. Sau hơn 10 năm triển khai pháp lệnh dân số, cơ cấu dân số Hà Nội đã có những thay đổi mạnh mẽ, tuy nhiên cũng đã và dang tồn tại không ít khó khăn như xu hướng sinh con thứ ba trở lên gia tăng và việc chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh cao [10]. Tình trạng sinh con thứ ba trở lên tại thành phố Hà Nội Cơ cấu dân số trẻ, số nữ bước vao độ tuôi sinh đẻ cùng với tốc độ gia tăng dân số cơ học hàng năm ở mức cao, góp phần làm tăng mức sinh. Đánh giá trong cả giai đoạn 10 năm thực hiện pháp lệnh dân số, mức sinh tuy giảm nhưng chưa thực sự bền vững, số sinh con thứ ba trở lên có giảm nhưng chưa ôn định [10].
Trong những năm gần đây, tình trạng sinh con thứ ba trở lên là mối quan tâm của các cấp chính quyền tại Hà Nội. Xu hướng sinh con thứ ba trở lên không chỉ tồn tại ở khu vực trung tâm mà còn xuất hiện nhiều ở các huyện ngoại thành và những khu đô thị hóa. Thoe báo cáo hang năm của Chi cục DS-KHHGĐ Hà Nội, tỷ lệ sinh con thứ ba của Hà Nội giảm từ 7,47% năm 2010 xuống còn 7,43% năm 2014. Mức tăng giảm hàng năm không đều, năm 2012 Hà Nội có tỷ lệ sinh con thứ ba cao nhất với 8,61% và giảm mạnh ở năm 2013 với 7,73% [3].