CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT Quản trị chi phí sản xuất là nhu cầu bức thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Để công tác quản trị chi phí sản xuất phát huy hiệu quả cao nhất thì vai trò của thông tin kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là rất quan trọng và hữu ích. Vậy kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin gì phục vụ quản trị chi phí sản xuất? Đây là một câu hỏi rất rộng nhưng tựu chung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải cung cấp cho nhà quản trị các thông tin sau: cần nguồn lực gì để sản xuất, sản xuất ra sản phẩm gì và mức hao phí để làm ra sản phẩm đó là bao nhiêu?, … Để từ đó phục vụ việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định. Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.13-27], "hệ thống thông tin kế toán là một hệ thống quản lý doanh nghiệp.
Nó bao gồm: hệ thống quyết định, hệ thống tác nghiệp và hệ thống thông tin, trong đó hệ thống thông tin thực hiện mối liên hệ giữa hệ thống tác nghiệp và hệ thống quyết định, đảm bảo chúng vận hành một cách thuận tiện để đạt được các mục tiêu đề ra". Đối với quản trị chi phí sản xuất thông tin kế toán nói chung và thông tin về chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm nói riêng giúp - Phân tích cách ứng xử của chi phí; - Lập dự toán và truyền đạt thông tin; - Kiểm tra, đánh giá; - Hỗ trợ ra quyết định.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế Theo cách phân loại này thì những chi phí sản xuất trong công ty có chung tính chất kinh tế sẽ được xếp chung vào một yếu tố chi phí, không kể chi phí đó chi ra ở đâu và dùng vào mục đích gì (trực tiếp sản xuất hay phục vụ quản lý). Có 5 loại nội dung chi phí dưới đây 1. Chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,.
Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí trả cho người lao động (thường xuyên hay tạm thời) về tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương, … 3. Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm chi phí khấu hao toàn bộ TSCĐ của công ty dùng trong sản xuất kinh doanh trong kỳ báo cáo; 4. Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí về nhận cung cấp dịch vụ từ các đơn vị khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; 5. Chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí không thuộc các loại trên như chi phí tiếp khách, hội nghị, quảng cáo,.
Cách phân loại này giúp cho nhà quản trị biết được trong quá trình sản xuất kinh doanh cần chi dùng những chi phí gì để lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí sản xuất [3, tr.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.40-41], cách phân loại này các chi phí được chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Đề tài này chỉ đề cập đến các chi phí sản xuất. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được phân chia thành những khoản mục chi phí theo chức năng. Những chi phí có chung công dụng được Luan van 11 xếp vào một khoản mục chi phí, không phân biệt tính chất kinh tế của chi phí đó như thế nào.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: gồm có nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,. tham gia trực tiếp sản xuất sản phẩm; 2. Chi phí nhân công trực tiếp: là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền công, tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất; 3. Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trên phạm vi phân xưởng như tiền lương, phụ cấp phải trả cho nhân viên phân xưởng; chi phí công cụ, dụng cụ xuất dùng cho phân xưởng, bộ phận sản xuất; khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, bộ phận sản xuất; các chi phí dịch vụ, lao vụ mua ngoài và chi phí khác thuộc phạm vi phân xưởng.
Cách phân loại này phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ. Cách phân loại này có tác dụng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, tính toán chính xác giá thành thực tế của sản phẩm, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau đến giá thành sản phẩm, từ đó phục vụ cho công tác phân tích và giám sát việc thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.45-54], xét theo cách ứng xử, chi phí sản xuất được chia thành: chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phí hỗn hợp. Chi phí khả biến: là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với các mức độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra.
Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi. Trong các công ty sản xuất, chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp,. thể hiện rõ nhất đặc trưng loại chi phí này. Luan van 12 Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến (y) theo mức độ hoạt động như Hình 1.1: Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến Trong đó y: Tổng chi phí khả biến.
a: Giá trị chi phí khả biến tính theo 1 đơn vị hoạt động. x: Biến số thể hiện mức độ hoạt động đạt được Trong thực tế, không phải tất cả các chi phí khả biến đều có cách ứng xử giống nhau theo mức độ hoạt động. Xét theo các thức ứng xử khác nhau đó, chi phí khả biến được chia thành: chi phí khả biến thực thụ và chi phí khả biến cấp bậc. Chi phí khả biến thực thụ là các chi phí khả biến có sự biến đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động.
Đa số các chi phí khả biến thường thuộc loại này, ví dụ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Chi phí khả biến cấp bậc là các chi phí khả biến không có sự biến động liên tục theo sự thay đổi liên tục của mức độ hoạt động. Các chi phí này chỉ biến đổi khi các hoạt động đã có sự biến đổi và đạt đến một mức độ cụ thể nào đó. Ví dụ: chi phí tiền lương của công nhân bảo trì dây chuyền sản xuất.
Luan van 13 Đồ thị biểu diễn sự biến thiên của chi phí khả biến (y) theo mức độ hoạt động như Hình 1.2: Đồ thị biểu diễn chi phí khả biến cấp bậc Tuy nhiên, trong thực tế, có rất nhiều loại chi phí khả biến không có mối quan hệ tuyến tính mà biến đổi theo các đường cong phức tạp, người ta xác định các "phạm phi phù hợp" để nhận dạng cách biến đổi của chúng theo dạng tuyến tính. Phạm vi phù hợp là một khoảng giới hạn của các hoạt động mà trong khoảng đó, quan hệ giữa chi phí biến đổi với mức độ hoạt động có thể quy về dạng tuyến tính. Khi phạm vi phù hợp được xác định càng nhỏ thì đường biểu diễn chi phí khả biến càng tiến dần về dạng đường thẳng, do vậy mức độ tuyến tính càng cao.3: Dạng phi tuyến và phạm phi phù hợp Luan van 14 b. Chi phí bất biến: là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động.
Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi, cho nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại. Nếu ta gọi b là tổng số chi phí bất biến thì đường biểu diễn chi phí bất biến là một đường thẳng có dạng y = b như Hình 1.4 y Chi phí bất biến y=b 0 x (Mức độ hoạt động) Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn chi phí bất biến Trong các công ty sản xuất, chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí tiền lương nhân viên quản lý,. Xét ở khía cạnh quản lý, chi phí bất biến được chia thành: chi phí bất biến bắt buộc và chi phí bất biến không bắt buộc. Chi phí bất biến bắt buộc là các chi phí phát sinh nhằm tạo ra các năng lực hoạt động cơ bản của công ty.
Ví dụ: chi phí khấu hao TSCĐ,. Chi phí bất biến không bắt buộc gồm chi phi quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển,. Chi phí hỗn hợp Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi phí khả biến và chi phí bất biến. Ở một mức độ nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi và mang đặc điểm của chi phí khả biến như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị, … Luan van 15 Cách phân loại này phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp.
Bên cạnh đó còn giúp cho nhà quản trị nhận diện được mối quan hệ giữa chi phí sản xuất-giá thành đơn vị của sản phẩm với mức độ, phạm vi hoạt động và năng lực hoạt động tối đa các tài nguyên của công ty. Điều này đặc biệt có ý nghĩa cho việc ra quyết định trong trường hợp xem xét mở rộng quy mô sản xuất hoặc sản xuất một sản phẩm mới, .3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG 1.1 Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ Theo tác giả Trương Bá Thanh [2, tr.79-80], tính giá thành sản phẩm theo phương pháp toàn bộ là phương pháp mà toàn toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành.