Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine

Nghiên cứu chế tạo và tính chất quang của nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine, mở ra hướng đi mới trong công nghệ vật liệu.

Chuyên ngành

Quang học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

78
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT QUANG CỦA NANO TINH THỂ BÁN DẪN CdSe

1.1. Sự giam giữ lượng tử đối với hạt tải

1.2. Biểu hiện của sự giam giữ lượng tử

1.3. Cấu trúc vùng năng lượng của bán dẫn

1.4. Các dịch chuyển quang trong nano tinh thể bán dẫn

1.5. Công nghệ chế tạo nano tinh thể bán dẫn

1.6. Chấm lượng tử CdSe

1.7. Ảnh hưởng của điều kiện chế tạo đến cấu trúc tinh thể

1.8. Ảnh hưởng của điều kiện chế tạo đến tính chất quang

1.9. Các đặc trưng phonon quang của nano tinh thể bán dẫn

2. CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO NC CdSe TRONG HỆ PHẢN ỨNG ODE-OA VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Lựa chọn dung dịch tiền chất selene không trioctylphosphine

3.2. Khảo sát hình thái của nano tinh thể CdSe

3.3. Khảo sát cấu trúc tinh thể

3.4. Khảo sát tính chất hấp thụ và quang huỳnh quang

3.5. Khảo sát đặc trưng phonon quang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính chất quang của nano tinh thể CdSe

Nano tinh thể CdSe là một trong những vật liệu bán dẫn quan trọng trong lĩnh vực quang học. Chúng có khả năng phát quang mạnh mẽ và có thể điều chỉnh tính chất quang thông qua kích thước và thành phần hóa học. Việc nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine mở ra nhiều cơ hội mới trong ứng dụng công nghệ nano.

1.1. Đặc điểm nổi bật của nano tinh thể CdSe

Nano tinh thể CdSe có kích thước từ 1 đến 100 nm, cho phép chúng thể hiện các tính chất quang độc đáo. Sự giam giữ lượng tử trong các nano tinh thể này dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong tính chất quang học, như sự mở rộng vùng cấm.

1.2. Ứng dụng của nano tinh thể CdSe trong công nghệ

Nano tinh thể CdSe được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như chiếu sáng, cảm biến quang học và đánh dấu sinh học. Khả năng điều chỉnh tính chất quang của chúng thông qua kích thước và thành phần hóa học là một lợi thế lớn.

II. Thách thức trong nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể CdSe

Việc chế tạo nano tinh thể CdSe thường gặp nhiều thách thức, đặc biệt là khi không sử dụng trioctylphosphine. Các vấn đề như độ đồng nhất, kích thước và hình dạng của các hạt nano cần được giải quyết để đảm bảo tính chất quang học tốt nhất.

2.1. Vấn đề về độ đồng nhất của nano tinh thể

Độ đồng nhất của nano tinh thể CdSe ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất quang học. Việc kiểm soát kích thước và hình dạng của các hạt nano là rất quan trọng để đạt được tính chất quang mong muốn.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện chế tạo đến tính chất quang

Các điều kiện chế tạo như nhiệt độ, thời gian phản ứng và nồng độ tiền chất có thể ảnh hưởng lớn đến tính chất quang của nano tinh thể CdSe. Cần có các nghiên cứu chi tiết để tối ưu hóa các điều kiện này.

III. Phương pháp chế tạo nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine

Phương pháp chế tạo nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine đang được nghiên cứu và phát triển. Việc sử dụng dung môi không liên kết như octadecene (ODE) giúp cải thiện tính chất quang của các hạt nano.

3.1. Quy trình chế tạo nano tinh thể CdSe

Quy trình chế tạo bao gồm việc sử dụng tiền chất CdO và Se-ODE trong môi trường không liên kết. Điều này giúp kiểm soát tốt hơn kích thước và hình dạng của các nano tinh thể.

3.2. Lợi ích của việc không sử dụng trioctylphosphine

Việc không sử dụng trioctylphosphine giúp giảm thiểu độc tính và chi phí sản xuất. Điều này mở ra cơ hội cho việc sản xuất hàng loạt các nano tinh thể CdSe với chất lượng cao.

IV. Kết quả nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể CdSe

Nghiên cứu cho thấy nano tinh thể CdSe chế tạo không sử dụng trioctylphosphine có tính chất quang tốt, với hiệu suất lượng tử huỳnh quang cao. Các kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng trong công nghệ quang học.

4.1. Đánh giá hiệu suất quang của nano tinh thể

Hiệu suất lượng tử huỳnh quang của nano tinh thể CdSe được đánh giá thông qua các phương pháp như hấp thụ quang và quang huỳnh quang. Kết quả cho thấy tính chất quang của chúng rất khả quan.

4.2. So sánh với các phương pháp chế tạo khác

So sánh với các phương pháp chế tạo sử dụng trioctylphosphine, nano tinh thể CdSe không sử dụng hợp chất này cho thấy sự cải thiện về độ đồng nhất và hiệu suất quang.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nano tinh thể CdSe

Nghiên cứu về nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine đã mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực quang học. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn hơn nữa.

5.1. Tương lai của nghiên cứu nano tinh thể CdSe

Nghiên cứu sẽ tiếp tục tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình chế tạo và khám phá thêm các ứng dụng mới cho nano tinh thể CdSe trong công nghệ quang học.

5.2. Ứng dụng tiềm năng trong công nghệ mới

Nano tinh thể CdSe có thể được ứng dụng trong các lĩnh vực như năng lượng mặt trời, cảm biến và thiết bị quang học, mở ra nhiều cơ hội cho nghiên cứu và phát triển.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể cdse không sử dụng trioctylphosphine

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO VÀ TÍNH CHẤT QUANG CỦA NANO TINH THỂ BÁN DẪN CdSe 1. Sự giam giữ lượng tử đối với hạt tải Khi kích thước của tinh thể rắn giảm xuống cỡ nano mét, có hai hiệu ứng đặc biệt xảy ra: Thứ nhất là tỉ số nguyên tử trên bề mặt và số nguyên tử tổng cộng của NC là khá lớn. Trong bất kỳ vật liệu nào, số nguyên tử bề mặt có đóng góp nhất định đến năng lượng bề mặt và số nguyên tử bề mặt cũng gây ra sự thay đổi lớn trong tính chất nhiệt động học của các NC, chẳng hạn như sự giảm của nhiệt độ nóng chảy của NC. Thứ hai khi kích thước của các tinh thể bán dẫn giảm xuống xấp xỉ bán kính Borh của exciton thì có thể xảy ra sự giam giữ lượng tử của các hạt tải, trong đó các trạng thái electron (lỗ trống) trong NC bị lượng tử hoá.

Các trạng thái bị lượng tử hoá trong cấu trúc nano sẽ quyết định tính chất điện và quang nói riêng, tính chất vật lý và hoá học nói chung của cấu trúc đó. Biểu hiện của sự giam giữ lượng tử Một hệ quả quan trọng của sự giam giữ lượng tử là sự mở rộng của vùng cấm khi kích thước NC giảm. Trong các NC bao quanh bởi một hố thế vô hạn, những mức năng lượng lượng tử kích thước của điện tử và lỗ trống có thể được viết trong sự gần đúng parabol như sau: 2 l2,n E e,h l , nconfinement  (1.1) 2me,h r 2 Trong đó l là số lượng tử momen góc, r là bán kính của NC (giả thiết là hình cầu) ,me,h là khối lượng hiệu dụng tương ứng của điện tử và lỗ trống, l,n là nghiệm thứ n của hàm Bessel cầu. Rõ ràng từ công thức (1.1), các mức năng lượng lượng tử hóa tăng khi kích thước NC giảm và do đó gây ra sự mở rộng của năng lượng vùng cấm.1 mô tả sự tách các mức năng lượng trong vùng hóa trị và vùng dẫn đồng thời với sự mở rộng vùng cấm của NC so với tinh thể khối.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự tăng các mức năng lượng lượng tử hóa và sự mở rộng năng lượng vùng cấm của NC so với tinh thể khối [6]. Sự mở rộng của năng lượng vùng cấm được chứng minh bằng thực nghiệm từ phổ hấp thụ và phổ huỳnh quang (PL) của NC (năng lượng của đỉnh hấp thụ thứ nhất có thể được xem là năng lượng của vùng cấm). là phổ hấp thụ và phổ PL của các QD CdSe với những kích thước khác nhau.

Kích thước nhỏ nhất ứng với bước sóng ngắn nhất của đỉnh phổ hấp thụ (hay PL), có nghĩa là năng lượng vùng cấm lớn nhất. Phổ hấp thụ và phổ PL của các QD CdSe có kích thước khác nhau [1]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc vùng năng lượng của bán dẫn Các chuyển dời nội vùng giữa các mức lượng tử của vùng dẫn và vùng hóa trị parabol được giải thích đơn giản bằng các chuyển dời được phép giữa các mức năng lượng có cùng số lượng tử.

Đối với các bán dẫn nhóm II-VI, chẳng hạn như CdSe, CdS, CdTe … cấu trúc vùng năng lượng là khá phức tạp. Vùng dẫn được xác định bởi các quỹ đạo s của ion kim loại nhóm II, trong khi đó vũng hóa trị có cấu trúc phức tạp hơn, bắt nguồn từ quỹ đạo p của S, Se, Te hoặc các nguyên tố nhóm VI. Vùng dẫn của các cấu trúc lập phương giả kẽm (Zincblend-ZB) hoặc lục giác (Wurtzite-WZ) có thể gần đúng là một parabol suy biến spin bậc 2 ở tâm vùng Brillouin (k = 0), trong khi vùng hóa trị suy biến bậc 6.3 trình bày các vùng của bán dẫn khối đối với hai loại cấu trúc tinh thể lập phương giả kẽm và lục giác. Cấu trúc vùng của các chất bán dẫn có cấu trúc ZB và WZ [7] Vùng hoá trị suy biến bậc bốn với mô men góc tổng cộng J = 3/2 (m J = ± 3/2; ± 1/2) và vùng hoá trị suy biến bậc hai với J = 1/2 (mJ = ±1/2) được tạo ra bởi sự kết hợp mômen góc orbital l = 1 và mômen góc spin s = 1/2.

Sự tách năng lượng của hai trạng thái này với J = 3/2 và J = 1/2 tại k = 0 (điểm  của vùng Brillouin) là do tương tác spin-quỹ đạo. Ba vùng con được định nghĩa là vùng lỗ trống nặng (HH), lỗ trống nhẹ (LH) và vùng spin quỹ đạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (SO) tách ra. Trường hợp của bán dẫn có cấu trúc lục giác, suy biến của các vùng con LH và HH ở k = 0 bị nâng lên do bởi trường tinh thể và sự bất đối xứng của cấu trúc mạng tinh thể. Các dịch chuyển quang trong nano tinh thể bán dẫn Tính chất quang của các NC xuất hiện từ các chuyển dời quang học được phép giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống được (Hình 1.

Các chuyển dời quang học giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống trong NC bán dẫn [8] Các trạng thái điện tử được đánh dấu bằng các kí tự để biểu thị các lượng tử mômen góc l, kí tự S (l=0); P (l=1); D (l=2). Các trạng thái của điện tử có suy biến bậc 2(2l+1), ba trạng thái thấp nhất của điện tử là 1S, 1P và 1D. Ba trạng thái đầu tiên của lổ trống là 1S 3/2 , 1P3/2 và 2S3/2. Chỉ số dưới biểu thị lượng tử mômen góc toàn phần F, F = L h+J trong đó Lh là mô men góc của hàm bao và J là mô men góc của hàm Bloch của lổ trống.

Các trạng thái của lổ trống suy biến bậc (2F+1). Năng lượng của các chuyển dời quang học có thể được xác định từ phổ hấp thụ hoặc phổ kích thích huỳnh quang. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Công nghệ chế tạo nano tinh thể bán dẫn 1.

Chấm lượng tử CdSe Phương pháp chế tạo NC có thể chia thành hai hướng: Một là tiếp cận từ trên xuống sử dụng các phương pháp vật lý, thực hiện bằng cách nghiền các tinh thể khối thành các tinh thể có kích thước nano; hai là tiếp cận từ dưới lên thường sử dụng các phương pháp hóa học. Tiếp cận từ trên xuống có thuận lợi là có thể chế tạo được một lượng lớn các tinh thể có kích thước nano, nhưng việc điều khiển kích thước và hình dạng là rất khó khăn. Ngược lại, phương pháp hóa học có thể tổng hợp các NC với kích thước có thể điều khiển được, mặc dù chỉ chế tạo được một lượng khá nhỏ. Đối với các NC bán dẫn, phương pháp phổ biến nhất hiện nay là phương pháp hóa ướt chế tạo các NC huyền phù.

Cho đến nay, việc nghiên cứu chế tạo NC vẫn đang được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước tiếp tục cải tiến và hoàn thiện. Trong phần này, sẽ trình bày tổng quan về công nghệ chế tạo các NC bằng phương pháp hóa học. Sự tạo thành của NC được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo mầm và giai đoạn phát triển tinh thể.5 trình bày mô hình La Mer về quá trình mọc mầm và phát triển NC. Mô hình của La Mer về quá trình mọc mầm và phát triển NC [9] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1950, La Mer và các cộng sự đã đưa ra khái niệm “tạo mầm bùng nổ”[9].

Ý nghĩa của khái niệm “tạo mầm bùng nổ” chính là sự tách ra của hai quá trình tạo mầm và phát triển tinh thể. Trong quá trình tạo mầm, các mầm đã được tạo ra gần như tức thời, tiếp sau đó là quá trình phát triển tinh thể mà không có thêm một sự tạo mầm nào. Sự tách ra của hai quá trình tạo mầm và phát triển tinh thể cho một khả năng điều khiển sự phân bố kích thước. Nếu quá trình tạo mầm xảy ra trong suốt quá trình chế tạo NC, sự phát triển tinh thể của các hạt sẽ rất khác nhau, do đó việc điều khiển phân bố kích thước sẽ rất khó khăn.

Công nghệ chế tạo các QD bán dẫn thuộc nhóm II-VI bằng phương pháp hóa học sử dụng kỹ thuật bơm nóng trong dung môi liên kết trioctylphosphine oxit (TOPO) đầu tiên được công bố bởi nhóm tác giả Murray và các cộng sự [3]. Với kỹ thuật này, Murray và các cộng sự đã tổng hợp được những QD CdSe đơn sắc, với bề mặt được thụ động hóa tốt bởi các phân tử của dung môi. Lý do thành công của kỹ thuật bơm nóng là sử dụng các chất tham gia phản ứng trong dung môi hữu cơ có độ sôi cao, cho phép tổng hợp khá chậm các QD tại nhiệt độ cao. Nhờ vậy, các QD có cấu trúc hoàn hảo và được thụ động hóa bề mặt tốt.

Ưu điểm khác của phương pháp này là tách riêng được giai đoạn tạo mầm và giai đoạn phát triển của QD, từ đó có thể điều khiển được khá chính xác kích thước và phân bố kích thước.6 là phổ hấp thụ và phổ PL của QD CdSe chế tạo theo phương pháp của Muray. Có thể thấy các đặc trưng hấp thụ khá nhọn, độ rộng phổ PL khá hẹp và không có phát Hình 1. Phổ hấp thụ và phổ PL xạ vùng bước sóng dài, PL QY đối của QD CdSe [3]. với mẫu này là khoảng 9,6 %.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Talapin và các cộng sự [10] đã cải tiến phương pháp của Muray bằng cách đưa thêm ligand hexadecylamine vào hệ phản ứng TOPO-TOP.7 trình bày phổ hấp thụ và phổ PL của các QD CdSe tại các thời gian phản ứng khác nhau, nhiệt độ phản ứng 300oC trong hệ phản ứng TOPO-TOP-HDA. Trong hệ phản ứng này, sự hội tụ của phân bố kích thước đã nhận được trong quá trình phát triển NC, vì vậy không đòi hỏi một thủ tục chọn lọc kích thước sau chế tạo. Bề mặt của các QD đã chế tạo có thể được thụ động hóa bằng cách phủ một lớp vỏ Hình 1. Phổ hấp thụ và PL vô cơ hoặc làm giảm bớt hiệu ứng của các QD CdSe tại thời gian bề mặt với các alkylamine mà không phản ứng khác nhau, nhiệt độ cần phải tách QD ra khỏi dung dịch phản ứng 300oC [10] thô.

Cả hai cách đều có thể nâng cao hiệu suất lượng tử (PL QY) ổn định khoảng 50%. Tuy nhiên Cd(CH3)2 rất độc, dễ cháy, đắt tiền, không ổn định ở nhiệt độ phòng và dễ nổ ở nhiệt độ cao. Do đó, chế tạo QD sử dụng Cd(CH3)2 đòi hỏi những điều kiện và thiết bị rất nghiêm ngặt và khó thực hiện với qui mô rộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể CdSe không sử dụng trioctylphosphine" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc tính quang học của nano tinh thể CdSe, một vật liệu quan trọng trong lĩnh vực quang điện và cảm biến. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các phương pháp chế tạo mà còn chỉ ra những ứng dụng tiềm năng của nano CdSe trong công nghệ hiện đại. Đặc biệt, việc không sử dụng trioctylphosphine trong quá trình tổng hợp mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các vật liệu nano an toàn và hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của nano tinh thể cdse không sử dụng trioctylphosphine, nơi cung cấp thông tin chi tiết về quy trình chế tạo và ứng dụng của nano CdSe. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu chế tạo znsmn từ axit thioglycolic axetat zn mn bằng phương pháp thủy nhiệt và khảo sát phổ phát quang của chúng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các vật liệu bán dẫn khác và phương pháp chế tạo tương tự. Cuối cùng, tài liệu Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang xúc tác của vật liệu nano tổ hợp cuo zno sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vật liệu nano tổ hợp và ứng dụng của chúng trong lĩnh vực xúc tác quang học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong nghiên cứu vật liệu nano.