CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về gãy xương đốt sống 1. Định nghĩa gãy xương đốt sống GXĐS được định nghĩa là giảm ít nhất 15% đến 20% chiều cao của đốt sống, có thể xảy ra bất cứ nơi nào của cột sống, thường gặp ở các đốt sống ngực và đốt sống thắt lưng [86]. Định nghĩa về gãy xương đốt sống của Hiệp hội nghiên cứu loãng xương Châu Âu là một đốt sống có bằng chứng giảm 20% (+ 4 mm) hoặc nhiều hơn ở chiều cao đốt sống trước, giữa hoặc sau khi so sánh giữa các phim, đồng thời đáp ứng các tiêu chí về biến dạng đốt sống trong phim tiếp theo (sử dụng phương pháp McCloskey-Kanis) [42].
Gãy lún đốt sống (Nguồn: Whitney E. Nguyên nhân Gãy xương đốt sống có thể do hai nhóm nguyên nhân chính: - Gãy xương đốt sống do loãng xương: Loãng xương là một trong những rối loạn chuyển hóa xương thường gặp nhất trên toàn thế giới, đặc trưng bởi giảm khả năng chịu lực của xương làm tăng nguy cơ gãy xương. Gãy xương đốt sống là gãy xương do xương yếu (fragility fracture) phổ biến nhất và được xem là dấu hiệu của loãng xương. Loại gãy xương này có thể xảy ra bất cứ nơi nào trong cột sống, phổ biến nhất là ở cột sống ngực dưới, sau một chấn thương nhẹ hoặc thậm chí những hoạt động nhỏ như ho hoặc khi đi vào hay ra khỏi bồn tắm [86].
Mô xương được sinh thiết của một người bình thường (bên trái) và bệnh nhân loãng xương (bên phải) (Nguồn: Hồ Phạm Thục Lan và Nguyễn Văn Tuấn [3]) - Gãy xương đốt sống do nguyên nhân khác: Chấn thương là nguyên nhân phổ biến của gãy xương cột sống, thường là các chấn thương nặng có thể làm gãy đốt sống khỏe mạnh. Bên cạnh đó, ung thư, hóa trị, nhiễm trùng, sử dụng steroid lâu dài, cường giáp và xạ trị là một số nguyên nhân làm suy yếu xương có thể dẫn đến gãy xương đốt sống. Dịch tễ học Gãy xương đốt sống (GXĐS) là một trong những biến chứng thường gặp nhất do loãng xương [20]. Do tỷ lệ hiện mắc, tần suất mới mắc cũng như gánh nặng kinh tế xã hội của GXĐS ngày càng tăng nên vai trò tiên lượng nhằm dự phòng GXĐS do loãng xương gây ra là vô cùng quan trọng.
Gánh nặng GXĐS không chỉ với bản thân người mắc mà còn với gia đình và xã hội, làm giảm chất lượng cuộc sống, gây đau lưng mạn tính, suy kiệt thể lực, mất khả năng lao động, dẫn đến tàn tật, tăng gánh nặng chi phí điều trị, tăng nguy cơ gãy xương đốt sống khác và gãy xương ngoài cột sống, thậm chí tăng nguy cơ tử vong [4]. Do sự già hóa dân số trên toàn thế giới và lối sống không lành mạnh phổ biến nên tỷ lệ loãng xương đã tăng lên một cách đáng kể và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong tương lai. Loãng xương được dự đoán sẽ thực sự trở thành một vấn đề của toàn cầu trong phần còn lại của thế kỷ 21. Vì vậy, tỷ lệ lưu hành của các biến chứng do loãng xương, trong đó có GXĐS cũng tăng theo.
Năm 2000, ước tính rằng trên toàn thế giới, loãng xương gây ra 9 triệu trường hợp gãy xương [72]. Tỷ lệ gãy đốt sống, xương hông và cổ tay theo từng nhóm tuổi và giới tính (Nguồn: Sambrook P. (2006) [130]) 7 Gần đây, các nghiên cứu về tỷ lệ GXĐS do LX trên toàn thế giới cho thấy tỷ lệ GXĐS do LX ở phụ nữ châu Âu cao nhất ghi nhận tại Scandinavia là 26% và thấp nhất ghi nhận tại Đông Âu là 18%. Tỷ lệ lưu hành ở Bắc Mỹ đối với phụ nữ da trắng trên 50 tuổi là 20–24%, với tỷ lệ da trắng/đen là 1,6.
Tỷ lệ ở phụ nữ trên 50 tuổi ở Mỹ Latinh nhìn chung thấp hơn châu Âu và Bắc Mỹ (11-19%). Ở châu Á, tỷ lệ GXĐS do LX ở phụ nữ trên 65 tuổi cao nhất ở Nhật Bản (24%), thấp nhất ở Indonesia (9%) và tại Trung Đông và Lebanon, tỷ lệ này là 20% [20]. Tại Việt Nam, một nghiên cứu thực hiện năm 2011 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ lưu hành của GXĐS ở nhóm tuổi từ 50 trở lên là 23,3% ở nam và 26,5% ở nữ. Đồng thời, các tác giả ghi nhận tỷ lệ mắc cũng tăng theo tuổi, ở nhóm từ 70 tuổi trở lên có tỷ lệ gãy ít nhất 1 đốt sống lên đến 41% nam giới và 42% nữ giới [62].
Gãy xương đốt sống mới mắc là khi mới phát hiện GXĐS tại vị trí mà trước đó không có gãy hoặc tăng độ nặng ở cùng vị trí đốt sống nếu thời điểm khảo sát trước đó đã có gãy. Nghiên cứu EPOS tại châu Âu cho thấy tần suất mới mắc GXĐS do LX của phụ nữ từ 50 tuổi trở lên là 10,7/1000 người – năm và ở nam giới cùng độ tuổi là 5,7/1000 người – năm [42]. Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy tỷ lệ mới mắc hàng năm ở phụ nữ da trắng tăng theo tuổi: 0,5% ở độ tuổi 65-69; 1% ở độ tuổi 70-74 và 1,3% ở độ tuổi >75 [111]. Chẩn đoán hình ảnh trong xác định gãy xương đốt sống Hiện nay, có nhiều phương tiện hình ảnh để xác định gãy xương đốt sống với độ nhạy và độ đặc hiệu khác nhau như DXA, CT-scan hay MRI.
Tuy nhiên, phổ biến nhất trong sàng lọc và chẩn đoán GXĐS vẫn là X quang cột sống kết hợp đọc bằng các phương pháp định lượng và bán định lượng. X quang Chụp X quang cột sống thẳng và nghiêng là các tư thế cơ bản để phát hiện GXĐS. Khi đánh giá GXĐS do LX, cần chú ý đánh giá vùng giữa ngực và giữa lưng do hầu hết các trường hợp GXĐS dạng lún do LX xảy ra tại vị trí vùng D7-D8 và D12-L1. Một số phương pháp đánh giá nhằm xác định GXĐS như phương pháp định lượng Eastel, phương pháp bán định lượng của Genant hay phương pháp chẩn đoán định tính theo cách loại trừ từng bước.
- Phương pháp định lượng Eastel Tiêu chuẩn xác định gãy xương đốt sống: so sánh tỷ lệ của từng đốt sống trên bệnh nhân so với trị số tham khảo của các đốt sống tương ứng [66]: Gãy xương độ 1: 3SD < biến dạng ≤ 4SD Gãy xương độ 2: biến dạng > 4SD [8]. Phân loại GXĐS theo phương pháp định lượng của Eastell (Nguồn: Eastell R. (1991) [40]) 9 - Phương pháp bán định lượng Harry Genant Đánh giá một đốt sống gãy khi có giảm ít nhất 15% tỷ số trước-sau (ha/hp), tỷ số giữa-sau (hm/hp) và tỷ số sau-sau liền kề (hp/hpa) của đốt sống so với từng giá trị trung bình trong dân số nói chung. Đánh giá một đốt sống gọi là “gãy mới” khi chiều cao đốt sống (trước, giữa hoặc sau) giảm ít nhất 15% trên các phim theo dõi theo thời gian.
Giá trị 15% được chọn làm điểm cắt do khả năng phân biệt bằng mắt thường của một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh được đào tạo có thể đánh giá được sự thay đổi về chiều cao đốt sống ít nhất 13%. Đánh giá bằng trực quan, không đo trực tiếp các thông số về đốt sống, người ta chia gãy đốt sống thành 3 mức độ là nhẹ (độ 1), vừa (độ 2) và nặng (độ 3) (xem Hình 1. Các mức độ gãy đốt sống theo cách phân loại bán định lượng của Genant (Nguồn: Genant H. (1993) [47]) 10 Phương pháp chẩn đoán định tính theo cách loại trừ từng bước (Algorithm- based qualitative identification, ABQ) Phương pháp này được xây dựng dựa trên sự quan sát của các tác giả về tình trạng gãy xương đốt sống mới xuất hiện, đánh giá sự giảm chiều cao, diện tích đốt sống và các đặc điểm thay đổi bất thường tại bề mặt thân sống.
Đối với phương pháp ABQ, qua lưu đồ chẩn đoán có thể rút ra 3 kết luận về tình trạng đốt sống: (1) bình thường, (2) gãy đốt sống do loãng xương và (3) biến dạng không do loãng xương, biến thể thông thường hay gãy đốt sống do các nguyên nhân khác loãng xương (xem Hình 1. Sơ đồ chẩn đoán định tính gãy xương đốt sống của Jiang (Nguồn: Jiang G.2 Chụp cắt lớp vi tính (CT) Chụp cắt lớp vi tính (CT) có độ nhạy cao hơn so với X quang thường quy trong phát hiện GXĐS, ngoài ra có thể phát hiện tốt hơn sự phá huỷ ở vùng vỏ xương và các thành phần phía sau cột sống. Do đó, phân biệt tốt hơn giữa gãy xương lành tính và ác tính, hay gãy xương cấp tính và mạn tính. Hiện nay, một số ứng dụng khác của chụp CT giúp đánh giá trực tiếp mật độ xương, vi cấu trúc của xương vỏ hay xương bè ở liều bức xạ thấp đang được nghiên cứu phát triển như µCT (micro CT) và qCT (quantitive CT).
Chụp cắt lớp vi tính định lượng (qCT) thường dùng để chỉ phương pháp chụp CT đánh giá thể tích MĐX bằng cách đưa dữ liệu thu thập được vào phần mềm xử lý, qua các thuật toán để cho ra kết quả giá trị thể tích MĐX. QCT có thể cho ra kết quả thể tích MĐX mà không bị ảnh hưởng bởi kích thước cơ thể, đồng thời, có thể phân biệt tốt xương vỏ và xương bè. Hiện tại, định nghĩa chẩn đoán loãng xương dựa vào MĐX theo WHO vẫn dựa trên phương pháp DXA và chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán chính thức bằng phương pháp qCT. Tuy nhiên, Hiệp Hội Điện Quang Hoa Kỳ viết tắt ACRad (American College of Radiology) đã đưa ra giá trị tham chiếu của MĐX đo bằng qCT gần tương đương với đo bởi DXA để chẩn đoán (Bảng 1.
Phân loại loãng xương dựa trên giá trị mật độ xương tại cột sống đo bằng qCT theo ACRad (Nguồn: American College of Radiology (2018) [13]) Khoảng MĐX của xương xốp cột Phân loại chẩn đoán WHO tương sống khi đo bằng qCT đương MĐX >120 mg/cm3 Bình thường 80 mg/cm3 ≤ MĐX ≥ 120 mg/cm3 Thiếu xương MĐX < 80 mg/cm3 Loãng xương 12 qCT thường đánh giá tại vị trí cột sống thắt lưng từ L1-L3 và đầu gần xương đùi. Khi đánh giá cột sống, qCT sử dụng kỹ thuật cắt lát đơn hoặc đo thể tích để đánh giá cột sống một vùng giữa đốt sống hoặc toàn bộ thân đốt sống. Ở đầu gần xương đùi, các phép đo ba chiều được chuyển đổi thành phép đo 2 chiều (CTXA) tương tự như hình ảnh DXA. Dựa trên sự giống nhau của phép đo CTXA và DXA, T-score có thể được sử dụng để diễn giải kết quả như trong DXA.
qCT cho kết quả đáng tin cậy hơn DXA khi bệnh nhân có mắc kèm một số rối loạn thấp khớp hay tăng sản xương vô căn lan toả. Nghiên cứu của tác giả Diederichs G.