Luận văn Lường Văn Đổng: Dùng thuốc và tuân thủ điều trị ĐTĐ typ 2

Luận văn thạc sỹ Dược học phân tích tình hình sử dụng thuốc và đánh giá tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 và yếu tố ảnh hưởng.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Dược học

2019

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đái Tháo Đường Typ 2 và Tầm Quan Trọng của Tuân Thủ Điều Trị

Đái tháo đường typ 2 là một bệnh chuyển hóa mãn tính phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt tại các nước đang phát triển. Theo dịch tễ học hiện đại, số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường tăng exponentially, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe công cộng. Tuân thủ điều trị là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả kiểm soát lâu dài các chỉ số glucose máu và phòng ngừa biến chứng. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Huyện Tuần Giáo cho thấy, tuân thủ dùng thuốc không chỉ giúp kiểm soát bệnh mà còn giảm chi phí điều trị và nâng cao chất lượng sống. Việc hiểu rõ các phương pháp điều trị đái tháo đường typ 2 và mức độ tuân thủ của bệnh nhân là tiền đề để xây dựng chiến lược chăm sóc sức khỏe hiệu quả.

1.1. Khái niệm Bệnh Đái Tháo Đường Typ 2

Đái tháo đường typ 2 là bệnh do cơ thể không sản xuất đủ insulin hoặc kháng insulin, dẫn đến tăng glucose máu. Đây là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 90-95% các trường hợp. Nguyên nhân chính bao gồm cơ chế bệnh sinh liên quan đến suy giảm tiết insulin, tăng kháng insulin, và rối loạn chức năng tế bào beta.

1.2. Vai Trò Tuân Thủ Điều Trị trong Kiểm Soát Bệnh

Tuân thủ điều trị đóng vai trò quyết định trong đạt được các mục tiêu kiểm soát glucose máu và giảm biến chứng tim mạch. Các bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc đều đặn có tỷ lệ kiểm soát huyết áp, cholesterol tốt hơn và giảm tỷ lệ nhập viện cấp cứu.

II. Các Thuốc Điều Trị Đái Tháo Đường Typ 2 Hiện Đại

Thị trường thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 ngày nay có rất nhiều lựa chọn, mỗi loại với cơ chế tác dụng khác nhau. Phác đồ điều trị được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân dựa trên tình trạng sức khỏe, các bệnh mắc kèm, và độ tuân thủ dự kiến. Các thuốc dạng uống như sulfonulurea, thiazolidinedione, và ức chế alpha-glucosidase vẫn được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, những loại thuốc mới như ức chế SGLT2 và Incretin mimetics mang lại hiệu quả tốt hơn với tác dụng phụ ít hơn. Sự đa dạng này cho phép các bác sĩ tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng không mong muốn cho từng bệnh nhân cụ thể.

2.1. Nhóm Thuốc Sulfonulurea và Glinides

Nhóm sulfonulureaglinides hoạt động bằng cách kích thích tuyến tụy tiết insulin. Mặc dù hiệu quả, chúng có nguy cạn gây hạ glucose máu và tăng cân. Những loại thuốc này thường là lựa chọn đầu tiên nhưng cần tuân thủ điều trị chặt chẽ để tránh các biến cố không mong muốn.

2.2. Thuốc Nhóm Thiazolidinedione và Ức Chế SGLT2

Thiazolidinedione (TZD) tăng nhạy cảm insulin trong mô cơ và mô mỡ. Ức chế SGLT2 là loại mới, giúp thận tiết glucose qua nước tiểu. Cả hai loại này có lợi ích bảo vệ tim mạch, làm chúng trở thành phác đồ điều trị ưu tiên cho bệnh nhân có bệnh tim.

III. Đánh Giá Mức Độ Tuân Thủ Và Các Yếu Tố Ảnh Hưởng

Đánh giá tuân thủ điều trị là bước quan trọng để xác định liệu bệnh nhân có đang dùng thuốc điều trị đái tháo đường đúng cách hay không. Có nhiều phương pháp đánh giá từ đơn giản như tự báo cáo đến phức tạp hơn như đếm viên thuốc còn lại. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ bao gồm: độ phức tạp của phác đồ, tác dụng phụ, nhân thức bệnh nhân, hỗ trợ gia đình, và khả năng tiếp cận thuốc. Những bệnh nhân có bệnh mắc kèm như cao huyết áp hoặc dyslipidemia thường có mức tuân thủ thấp hơn do cần dùng nhiều loại thuốc. Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu giúp xác định các can thiệp cần thiết để cải thiện tuân thủ.

3.1. Phương Pháp Đánh Giá Tuân Thủ Hiện Đại

Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị bao gồm: tự báo cáo, đếm viên thuốc, đo biomarkers, và sử dụng công nghệ giám sát. Phương pháp đếm viên là đơn giản nhất, trong khi đo chỉ số HbA1c phản ánh tuân thủ dài hạn. Các tiêu chuẩn đánh giá hiện đại kết hợp nhiều phương pháp để có cái nhìn toàn diện về tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân.

3.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Tuân Thủ Điều Trị

Mức độ tuân thủ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: tác dụng phụ thuốc điều trị, chi phí, độ phức tạp phác đồ, và hỗ trợ xã hội. Bệnh nhân có bệnh mắc kèm nhiều thường gặp khó khăn trong tuân thủ điều trị dài hạn. Tăng cường giáo dục bệnh nhân và hỗ trợ y tế cộng đồng có thể cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Và Những Khuyến Nghị Thực Hành

Những nghiên cứu về tuân thủ điều trị tại các bệnh viện cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tuân thủ và hiệu quả điều trị. Bệnh nhân tuân thủ dùng thuốcchỉ số HbA1c tốt hơn, huyết áp kiểm soát tốt, và giảm tác dụng không mong muốn từ những biến chứng. Sự thay đổi chỉ số hóa sinh qua từng lần tái khám cho thấy xu hướng cải thiện ở những bệnh nhân tuân thủ cao. Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả điều trị bao gồm: kiểm soát glucose máu, chỉ số huyết áp, lipid profile, và chỉ số BMI. Phác đồ điều trị hợp lítuân thủ điều trị tốt có thể đạt được các mục tiêu này trong vòng 3 tháng. Các khuyến nghị bao gồm: cải thiện truy cập thuốc, tăng cường giáo dục bệnh nhân, và xây dựng chương trình theo dõi thường xuyên.

4.1. Hiệu Quả Điều Trị Sau 3 Tháng Theo Dõi

Đánh giá hiệu quả sau 3 tháng điều trị cho thấy sự thay đổi chỉ số hóa sinh đáng kể ở bệnh nhân tuân thủ. Chỉ số HbA1c giảm, glucose lúc đói cải thiện, và chỉ số BMI xu hướng giảm. Những tiêu chuẩn đánh giá này xác nhận hiệu quả của phác đồ điều trị được lựa chọn hợp lí và tuân thủ dùng thuốc tốt từ bệnh nhân.

4.2. Khuyến Nghị Cải Thiện Tuân Thủ Và Hiệu Quả Lâu Dài

Để tăng mức độ tuân thủ điều trị, cần thiết phải: giáo dục bệnh nhân về bệnh đái tháo đường typ 2, simplify phác đồ điều trị, cải thiện tiếp cận thuốc, và xây dựng quan hệ đối tác giữa bệnh nhân và nhân viên y tế. Theo dõi định kỳ và đánh giá thái độ niềm tin của bệnh nhân với thuốc điều trị giúp phát hiện sớm các rào cản tuân thủ.

21/12/2025
Lường văn đổng phân tích tình hình sử dụng thuốc và đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh bệnh viện đa khoa huyện tuần giáo điện biên luận văn thạc sỹ dược học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường typ 2 là một trong những bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới, đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm. Trên thế giới năm 2015 có 415 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, tương đương cứ 11 người có 1 người bị đái tháo đường và dự báo năm 2040 trên toàn thế giới có 642 triệu người bị đái tháo đường, tương đương cứ 10 người có 1 người bị đái tháo đường [4]. Tại Mỹ và Canada, ĐTĐ typ 2 chiếm khoảng 95% các trường hợp đái tháo đường và đang trở thành mối quan ngại về sức khỏe cộng đồng [25]. Tại Việt Nam, trước những năm 1990 tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 1,1%, nhưng theo điều tra của bệnh viện Nội Tiết Trung Ương năm 2015 tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 5,24% [4].

Hiện nay chưa có loại thuốc nào điều trị khỏi hoàn toàn bệnh đái tháo đường mà thuốc chỉ có tác dụng hạ glucose huyết. Các thuốc điều trị đái tháo đường rất đa dạng về hoạt chất và phong phú về dạng bào chế. Do đó có nhiều thuận lợi trong điều trị đái tháo đường nhưng cũng không ít nhữngng khó khăn, thách thức trong việc lựa chọn và sử dụng thuốc một cách hiệu quả, an toàn và hợp lý. Hầu hết các bệnh nhân sau khi được chẩn đoán là bệnh đái tháo đường đều được điều trị ngoại trú bằng thuốc kết hợp với chế độ ăn và luyện tập phù hợp trong thời gian dài để kiểm soát đường huyết và giảm biến chứng do tăng glucose máu.

Do đó, hiệu quả điều trị bệnh đái thoái đường phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tuân thủ các chế độ điều trị của bệnh nhân. Tuy nhiên, mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân thường có xu hướng giảm dần theo thời gian. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị các bệnh mạn tính chỉ chiếm 50% dân số nói chung. Không tuân thủ điều trị là nguyên nhân gây ra tử vong khoảng 125.000 người trên thế giới, tỷ lệ bệnh nhân nhập viện tăng lên 25% và tăng chi phí y tế lên khoảng 100 triệu đô la mỗi năm.

Ngược lại, tuân thủ điều trị giúp cho bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn và giảm chi phí y tế [32]. Vì vậy phân tích việc lựa chọn thuốc đúng cho bệnh nhân và đánh giá mức độ tuân thủ điều trị, tìm nguyên nhân dẫn đến không tuân thủ điều trị để làm cơ sở đưa ra 1 các biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả có ý nghĩa quan trọng điều trị đái tháo đường. Bệnh viện Đa khoa huyện Tuần Giáo – Điện Biên là bệnh viện tuyến huyện vừa có chức năng khám chữa bệnh, vừa có chức năng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Khoa Khám bệnh là khoa đang thực hiện quản lý và theo dõi việc điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường typ 2 theo chương trình quản lý đái tháo đường quốc gia.

Hàng năm đều có một lượng bệnh nhân nhất định bị đái tháo đường đến khám và điều trị, song việc quan tâm đến sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 và chú trọng mức độ tuân thủ điều trị đái tháo đường của bệnh nhân chưa được thực hiện. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích tình hình sử dụng thuốc và đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh – bệnh viện Đa khoa huyện Tuần Giáo – Điện Biên” với 2 mục tiêu sau: 1. Phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 tại khoa Khám bệnh – bệnh viện Đa khoa huyện Tuần Giáo – Điện Biên. Đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân đến hiệu quả điều trị trong mẫu nghiên cứu.

Từ đó, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại khoa Khám bệnh – bệnh viện Đa khoa huyện Tuần Giáo – Điện Biên. Bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa Theo Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2: Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protid, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [4].

Theo định nghĩa của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF), định nghĩa Đái tháo đường: “Bệnh đái tháo đường hay bệnh tiểu đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không còn khả năng tạo ra insulin hoặc khi cơ thể không sử dụng tốt insulin do nó tạo ra”. Trong đó “Đái tháo đường typ 2 được đặc trưng bởi sự đề kháng insulin và sự thiếu hụt insulin một cách tương đối, cả hai yếu tố hoặc một trong hai có mặt ở thời điểm được chẩn đoán đái tháo đường” [31]. Dịch tễ bệnh đái tháo đường Bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa, mang tính chất xã hội và có xu hướng tăng nhanh rất nhanh trong thời gian gần đây. ĐTĐ thường không xác định được nguyên nhân cụ thể, chỉ xác định được nhóm nguy cơ như lối sống, chế độ ăn.

Trên thế giới, ước tính khoảng 422 triệu người trưởng thành đang sống với bệnh tiểu đường trong năm 2014, so với 108 triệu vào năm 1980. Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 1980, tăng từ 4,7% lên 8,5% ở người lớn. Điều này phản ánh sự gia tăng các yếu tố nguy cơ liên quan như bị thừa cân hoặc béo phì [4]. Trong thập kỷ qua, tỷ lệ hiện mắc bệnh tiểu đường đã tăng nhanh hơn ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình so với ở các nước có thu nhập cao.

Bệnh tiểu đường gây ra 1,5 triệu trường hợp tử vong vào năm 2012. Đường huyết cao hơn mức tối ưu gây ra thêm 2,2 triệu người tử vong, do tăng nguy cơ bệnh tim mạch và các bệnh khác. Bốn mươi ba phần trăm trong số 3,7 triệu người này sẽ tử vong trước 70 tuổi. Tỷ lệ tử vong do tiểu 3 đường xảy ra trước tuổi 70 ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cao hơn so với các quốc gia có thu nhập cao [35].

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2015 toàn thế giới có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), tương đương cứ 11 người có 1 người bị ĐTĐ, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có 1 người bị ĐTĐ, 91% người lớn mắc bệnh ĐTĐ typ 2 ở các nước có thu nhập cao [31]. Ở Việt Nam không nằm trong 10 nước có tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ cao nhưng là nước có tốc độ gia tăng bệnh nhanh. Theo kết quả điều tra lập bản đồ dịch tễ học ĐTĐ toàn quốc năm 2012 do bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện, sau 10 năm từ 2002 đến 2012, tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng trên 2 lần, từ 2,7% lên 5,4%. Theo kết quả điều tra về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [4].3 Nguyên nhân Đặc điểm quan trọng nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường typ 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường.

- Yếu tố di truyền. - Yếu tố môi trường: là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là: + Sự thay đổi lối sống: giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh bột, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng. + Chất lượng thực phẩm: ăn nhiều các loại carbohydrat hấp thu nhanh (đường tinh chất, bánh ngọt, kẹo…), chất béo bão hòa, chất béo trans… + Các stress về tâm lý.

- Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao: đây là yếu tố không thể can thiệp được. Phân loại Theo ADA 2018 và theo hướng dẫn Bộ Y tế năm 2017, ĐTĐ được chia thành 4 nhóm [4][29]. - ĐTĐ typ 1 (do phá hủy tế bào β tự miễn, thường dẫn đến sự thiếu hụt insulin tuyệt đối) - ĐTĐ typ 2 (do giảm tiết insulin của tế bào β của đảo tụy hoặc đề kháng insulin) 4 - ĐTĐ thai kỳ (GDM) là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ typ 1, typ 2 trước đó - Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… 1. Cơ chế bệnh sinh của bệnh đái tháo đường typ 2 Suy giảm chức năng tế bào beta và kháng insulin: - Tình trạng thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực, là những đặc điểm thường thấy ở người đái tháo đường typ 2 có kháng insulin.

Tăng insulin máu, kháng insulin còn gặp ở người tiền đái tháo đường, tăng huyết áp vô căn, người mắc hội chứng chuyển hóa v. - Người đái tháo đường typ 2 bên cạnh kháng insulin còn có thiếu insulin- đặc biệt có khi tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) [4]. Tiêu chuẩn chẩn đoán Bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo ADA 2018 [29] 1. Đường huyết lúc đói ≥126 mg/dL (7.

Nhịn ăn ít nhất là 8 h. Đường huyết sau 2 giờ ≥200 mg/dL (11.1 mmol/L) trong thử nghiệm OGTT. Thử nghiệm được thực hiện bởi WHO, uống glucose tương đương với 75-g khan hòa tan trong nước. Thử nghiệm phải được chứng nhận thực hiện được trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp NGSP và được chuẩn hóa theo xét nghiệm DCCT.

Ở bệnh nhân có thường xuyên tăng đường huyết hoặc tăng bất ngờ tăng khi chỉ số ≥ 200 mg/dL (11. * Trong trường hợp việc tăng đường huyết không rõ ràng, cần làm lại các xét nghiệm Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán 1, 2, 4 ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ