MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trên thế giới, đói nghèo là vấn đề được xã hội quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình trạng phân hoá giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp, trong đó có Việt Nam, thì bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn đang sống trong tình trạng thiếu đói, không đủ ăn trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Sau hơn 20 năm đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư. Vì vậy, một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo.
Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển. Vì vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Xóa đói giảm nghèo cũng giống như việc chữa trị một căn bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất giúp người dân xóa nghèo. Xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là một xã vùng cao của huyện Bạch Thông nằm dưới dải chân núi Phja Bjoóc, cách trung tâm huyện khoảng 8km, Thành phố Bắc Kạn 15 km.
Có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.869 ha một xã hầu hết dân số sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông h 2 nghiệp. Điều kiện sản xuất còn rất khó khăn nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Là xã đặc biệt khó khăn của huyện, địa hình chủ yếu là đồi núi có độ dốc cao, hệ thống đường giao thông đã được phát triển có đường ô tô đến trung tâm xã nhưng chủ yếu là đường giao thông nông thôn loại b thường bị chia cắt vào mùa mưa, giao thông đi lại khó khăn nên ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình. Trình độ dân trí không đồng đều do vậy nhận thức và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm, còn chông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước chưa chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình.
Thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp chưa quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Là xã vùng ba có tỷ lệ hộ nghèo là 27,79% nên công tác giảm nghèo tại xã luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải. Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của xã Lục Bình như vậy, huyện Bạch Thông và Xã Lục Bình đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo Xuất phát từ những lí do trên và qua quá trình học tập tại trường với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Th.s Lưu Thị Thùy Linh em tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu thực trạng và và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng đến nghèo của các hộ nông dân từ đó đưa ra được những giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng nghèo của xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kan - Đánh giá các chương trình giảm nghèo đã thực hiện tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn h 3 - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn - Đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Lục Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn 1.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn. Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này.
Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam. Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc rễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống. Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề tài là cơ sở để có những định hướng, giải pháp nhằm XĐGN cho địa phương nghiên cứu và áp dụng vào một số địa phương có điều kiện tương tự h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 2.1 Một số khái niệm về đói nghèo Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian.
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia. Hội nghị chống nghèo đói do ủy ban kinh tế xã hội ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ASCAP) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về đói nghèo. Theo hội nghị “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của các địa phương và những phong tục ấy đã được xã hội thừa nhận”.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch 1995 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về đói nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua số sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác của nghèo đói. Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu h 5 cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”[6] ) Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’.
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. [ 8 ] ) Nghèo tương đối Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói 2.