Đặt vấn đề Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây công nghiệp dài ngày, đƣợc xem là “vua của các loại gia vị”, c giá trị kinh tế cao, đƣợc trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, hồ tiêu đã trở thành sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất và không ai trong giới kinh doanh gia vị và nông sản trên khắp thế giới không biết đến hồ tiêu Việt Nam. Ngƣời ta biết đến Hồ tiêu Việt Nam nhƣ là một nhà sản xuất và xuất khẩu số 1 thế giới, là một ngành hàng uy tín và chất lƣợng. Hơn thế nữa, Hồ tiêu Việt Nam còn là một thị trƣờng đầy tiềm năng và triển vọng.
Đƣợc khai sinh từ thế kỷ XVII, là một loại cây công nghiệp lâu năm của nông nghiệp Việt Nam, Hồ tiêu Việt Nam đã vƣơn mình thành một ngƣời khổng lồ không những của nông nghiệp Việt Nam mà của cả thế giới. Sở dĩ Hồ tiêu Việt Nam có thể phát triển một cách thành công nhƣ vậy là do Việt Nam đã kết hợp đƣợc tất cả các điều kiện thuận lợi về tự nhiên, về con ngƣời, về ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Thiên nhiên ƣu đãi với đất bazan màu mỡ, khí hậu cận nhiệt đới, độ ẩm cao, lƣợng mƣa nhiều. Nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó, ham học hỏi.
Chính phủ Việt Nam và các nhà khoa học sẵn sàng hỗ trợ trong đầu tƣ canh tác và ứng dụng khoa học kỹ thuật. Các nhà chế biến và xuất khẩu luôn chủ động mở rộng thị trƣờng, đầu tƣ nhà máy chế biến hiện đại, đa dạng hoá sản phẩm. Bên cạnh đ có Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đƣợc thành lập tháng 12/2001, là đơn vị phi lợi nhuận luôn hoạt động tích cực và hiệu quả vì quyền lợi, vì sự phát triển của ngành Hồ tiêu Việt Nam. Năm 2005, đƣợc sự nhất trí của tổ chức Liên hiệp quốc và Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế, Việt nam đã gia nhập Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), hiệp hội Hồ tiêu Việt nam đƣợc Bộ NN&PTNT giao trực tiếp tham gia các hoạt động của IPC, cùng chia xẻ thông tin ngành hàng về thị trƣờng giá cả, về áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng tiêu theo phƣơng pháp hữu cơ bền vững (GAP), về tiêu chuẩn chất lƣợng .v… Với những đặc tính nhƣ trên c ng sự chủ động và sáng tạo, Hồ tiêu Việt Nam đã sẵn sàng vƣợt qua mọi thách thức, khẳng định mạnh mẽ vị thế của mình trên trƣờng quốc tế.
Đến nay, Việt Nam trở thành nƣớc xuất khẩu hồ tiêu nhiều nhất, hiện chiếm 57% lƣợng hồ tiêu giao dịch thị trƣờng thế giới. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), năm 2014 hồ tiêu lần đầu lọt vào nhóm các mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỉ USD với kim ngạch 1,2 tỉ USD. Hồ tiêu Việt Nam đã xuất khẩu đi rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nên không bị phụ thuộc thị trƣờng, ngay với Trung Quốc (chiếm 20% thị phần). Thị phần nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam châu Âu hiện chiếm 34%, châu Á 36%, châu Mỹ 20% và châu Phi là 10%.
Quảng Trị là một tỉnh thuộc khu vực miền Trung nƣớc ta c điều kiện đất đai, khí hậu, thủy nông tƣơng đối thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp nói chung và cây công nghiệp dài ngày n i riêng, đặc biệt là cây hồ tiêu, đây là địa bàn có vùng PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 đất đỏ bazan màu mỡ thích hợp cho việc trồng cây hồ tiêu. Do vậy trong những năm gần đây cây hồ tiêu phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phƣơng, năng suất cũng đƣợc tăng lên đáng kể, đƣợc nhiều cấp ngành quan tâm nghiên cứu và đƣa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm thúc đẩy việc sản xuất hồ tiêu đạt hiệu quả linh tế cao hơn, diện tích toàn tỉnh hiện nay đạt khoảng 2. Tuy nhiên việc ngƣời dân phát triển diện tích trồng hồ tiêu khi chƣa đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức về khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện cho các đối tƣợng dịch hại gây hại nghiêm trọng làm ảnh hƣởng lớn đến năng suất phẩm chất cây trồng. Bảo vệ cây trồng là rất quan trọng trong sản xuất cây hồ tiêu vì các nguồn gây hại là những nguyên nhân chính làm giảm năng suất và chất lƣợng hạt tiêu.
Cỏ dại cũng là một yếu tố có mối liên hệ lớn đến các yếu tố gây hại khác và việc phòng trừ cỏ dại cho cây hồ tiêu cũng là một vấn đề lớn cần đƣợc ngƣời trồng tiêu quan tâm. Cỏ dại gây thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp do đặc tính tranh chấp với cây trồng về dinh dƣỡng, nƣớc và ánh sáng. Theo tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) cho biết, cỏ dại có thể là kẻ thù lớn nhất của ngƣời nông dân. Kết quả nghiên cứu của tổ chức môi trƣờng Land Care ò New Zealand cho thấy cỏ dại gây thiệt hại lên tới 95 tỷ USD cho sản xuất lƣơng thực trên toàn cầu, so với mức 85 tỷ USD do dịch bệnh, 46 tỷ USD do sâu bọ phá hại và 2,6 tỷ USD do động vật, không kể do con ngƣời phá hoại (Nguyễn Thị Tân và Nguyễn Hồng Sơn, 1997), (Ampong-Nyarko K và De Datta SK, 1994).
Trong những năm qua, các ngành chuyên môn đã tập trung nghiên cứu xây dựng, ban hành các quy trình nhƣ b n phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây hồ tiêu… nhƣng việc nghiên cứu ảnh hƣởng và đánh giá các biện pháp phòng trừ cỏ dại đến sinh trƣởng, phát triển cây hồ tiêu thì chƣa thực sự đƣợc quan tâm triển khai, biện pháp phòng trừ cỏ dại trên cây hồ tiêu chủ yếu dựa vào tập quán và năng lực sản xuất của hộ trồng tiêu. Xuất phát từ yêu cầu sản xuất chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thực trạng và các biện pháp quản lý cỏ dại hồ tiêu tại Quảng Trị” 2. Mục đích của đề tài Điều tra thực trạng quản lý, thành phần cỏ dại trên cây hồ tiêu ở Quảng trị, trên cơ sở đ tiến hành nghiên cứu biện pháp phòng trừ cỏ dại thích hợp cho cây hồ tiêu và đánh giá hiệu quả kỷ thuật, kinh tế, hàm lƣợng dinh dƣỡng và thành phần vi sinh vật trong đất nhằm xác định biện pháp trừ cỏ có hiệu quả kinh tế, phù hợp với sản xuất của địa phƣơng và không c tác động xấu đến môi trƣờng. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3.
Ý nghĩa khoa học + Kết quả nghiên cứu cung cấp các dẫn liệu khoa học về thành phần cỏ dại và tình hình quản lý cỏ dại hồ tiêu ở Quảng Trị. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 + Xác định biện pháp trừ cỏ thích hợp cho hồ tiêu ở Quảng Trị nói riêng và miền Trung nói chung. Ý nghĩa thực tiễn Quản lý tốt cỏ dại hồ tiêu, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế và tính ổn định cho sự phát triển và kinh doanh hồ tiêu ở Quảng Trị, góp phần nâng cao thu nhập cho ngƣời trồng tiêu. Những điểm mới của đề tài + Xác định thành phần các loại cỏ dại chủ yếu và mức độ phổ biến của các loại cỏ dại trên hồ tiêu ở Quảng Trị.
+ Đánh giá hiệu quả các biện pháp trừ cỏ khác nhau và xác định biện pháp phòng trừ cỏ dại thích hợp cho cây hồ tiêu ở Quảng Trị. + Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của các biện pháp phòng trừ cỏ dại trên cây hồ tiêu đến hàm lƣợng dinh dƣỡng đất và thành phần vi sinh vật trong đất. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử phát triển và giá trị kinh tế của cây hồ tiêu 1.
Lịch sử phát triển của cây hồ tiêu Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) thuộc họ hồ tiêu Piperaceae, có nguồn gốc từ bang Tây Ghats và Assam (Ấn Độ), có lẽ đã đƣợc trồng cách nay khoảng 6000 năm (Sasikumar và ctv., 1999; Ravindran và ctv. Hồ tiêu mọc hoang ở rừng thƣờng xanh nhiệt đới ẩm bang Tây Ghats và vùng phụ cận, thƣờng là ở v ng đồng bằng và ít khi đƣợc tìm thấy ở độ cao trên 1500m (Purseglove, 1968), đƣợc ngƣời Ấn Độ phát hiện và sử dụng đầu tiên. Ngƣời Hy lạp gọi là Piperi, ngƣời Anh gọi là Pepper black và tiếng Latin gọi là Piper nigrum. Hồ tiêu là loại gia vị cổ nhất và quan trọng nhất, đƣợc ƣa thích tại Ấn Độ và là loại gia vị đặc sản đƣợc các vua chúa Châu Âu ƣa chuộng; trong thời Đế quốc Hy lạp và Roman cổ, Theo Theopharastus (372- 287 B.C), các nhà hiền triết Hy lạp gọi n là “cha của các loài thực vật”.
Từ chỗ mọc hoang trong rừng núi Ấn Độ, đến nay, hồ tiêu đƣợc trồng với quy mô lớn ở nhiều nƣớc châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ với sản lƣợng hàng năm trên dƣới 300. Ấn Độ là nƣớc trồng hồ tiêu nhiều nhất trên Thế giới trong nhiều năm liền, với diện tích hồ tiêu khoảng 214.910 ha năm 2000 và hiện nay là 70.000ha (2015), tập trung ở Kerela và Mysore. Từ Ấn Độ, sau đ cây hồ tiêu đƣợc trồng rộng rãi ở các nƣớc v ng Nam Á nhƣ Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia,. Ở Indonesia, cây hồ tiêu đƣợc đƣa vào trồng trong khoảng thời gian từ 100 năm trƣớc Công nguyên đến năm 600 sau Công nguyên, diện tích canh tác tổng cộng hơn 145.830ha vào năm 2000 và đến nay là 70.000ha (2015), phần lớn ở Sumatra chiếm 70%, đảo Bangka chiếm 20% và Java chiếm 10%.
Ở Malaysia, hồ tiêu đƣợc trồng với diện tích rất lớn ở Sarawak theo lối thâm canh với diện tích 11.500ha vào thời kỳ năm 2000. Ở các đảo khác thuộc Malaysia, diện tích thống kê không nhiều nhƣng con số thống kê lại cho thấy mức xuất khẩu rất lớn. Ở Thái Lan, hồ tiêu đƣợc trồng tập trung ở tỉnh Krat và Chantaboun. Ở Srilanka, cây hồ tiêu đƣợc canh tác nhiều kể từ năm 1739, tập trung ở tỉnh Kandy, sản xuất khoảng 7.000 tấn/năm, phần lớn đƣợctiêu thụ trong nƣớc.
Ở Việt Nam, cây tiêu mọc hoang đƣợc tìm thấy từ trƣớc thế kỷ XVI, nhƣng đến thế kỷ XVII mới đƣợc đƣa vào trồng (Chevalier, 1925; Phan Hữu Trinh và ctv. Đến cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu đƣợc trồng với diện tích tƣơng đối khá ở Phú Quốc, Hòn Chồng và Hà Tiên (Kiên Giang), chủ yếu do ngƣời Hoa gốc ở đảo Hải Nam theo Mạc Cửu di cƣ vào Hà Tiên. Cũng trong khoảng thời gian này và đầu thế kỷ XX, cây hồ PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.