ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh Rubella là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút gây nên. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do ho, hắt hơi, tiếp xúc gần với người bị nhiễm hoặc dịch tiết mũi họng [13]. Do có nhiều trường hợp không có triệu chứng lâm sàng (chiếm 50% số ca nhiễm vi rút Rubella) nên bệnh có khả năng lây lan cao và có thể gây thành dịch lớn [37]. Tất cả những người chưa có miễn dịch với Rubella đều có nguy cơ mắc bệnh.
Đặc biệt, Rubella rất nguy hiểm đối với phụ nữ trong thời kỳ đầu khi mang thai [13]. Nhiễm Rubella đối với phụ nữ có thai có thể dẫn đến nhiễm trùng bào thai, gây nên sự phát triển không bình thường của thai nhi, chết thai hoặc hội chứng Rubella bẩm sinh (Congenital Rubella syndrome - CRS). Trẻ sinh ra từ các bà mẹ mắc bệnh Rubella trong 3 tháng đầu mang thai thì có từ 80% đến 90% số trẻ được sinh ra bị CRS với nhiều dị tật nghiêm trọng như dị tật tim, điếc, đục thủy tinh thể, chậm phát triển… Một số trường hợp trẻ tử vong do hậu quả của CRS [10], [22], [27]. Rubella phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới, với các đợt dịch theo chu kỳ 5 - 9 năm.
Quy mô và chu kỳ các đợt dịch Rubella biến thiên nhiều ở cả các quốc gia trên thế giới [27]. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention - CDC) năm 2014, trên thế giới có 33.068 ca mắc Rubella nằm rải rác trên 161 quốc gia. Các nước khu vực Đông Nam Á ghi nhận có 9.263 ca nhiễm Rubella, đứng thứ 2 trên thế giới sau khu vực Tây Thái Bình Dương [42]. Tại Việt Nam, theo thống kê năm 2011, cả nước xảy ra đại dịch Rubella, hàng nghìn phụ nữ mang thai bị nhiễm Rubella, hơn 2.000 phụ nữ mang thai bị nhiễm Rubella đến trung tâm chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương tư vấn, hơn 1.000 phụ nữ mang thai nhiễm Rubella bị đình chỉ thai nghén, gần 100 trẻ sơ sinh bị CRS [2].
Nghiên cứu gần đây cho thấy phần lớn ca Rubella ở nhóm 10 - 14 tuổi (chiếm 28,0%) và có xu hướng tăng lên ở nhóm phụ nữ trong nhóm tuổi 15 - 35 trong thời gian từ năm 2007 - 2011 [23]. 2 Tại Hà Nội từ năm 2013 đến nay, hàng năm đều ghi nhận số ca mắc Rubella. Đặc biệt, năm 2011 dịch Rubella xuất hiện trên 27 quận, huyện với tổng số 233 ca nhiễm Rubella. Trong đó phường Trung Tự, quận Đống Đa có 2 ca mắc Rubella ở đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ) trên tổng số 22 ca mắc Rubella trên toàn quận Đống Đa, trong đó có 1 ca nhiễm Rubella khi mang thai, trẻ đẻ ra có CRS (điếc, đục thủy tinh thể).
Xã Thụy An là xã có số ca mắc Rubella cao nhất trên địa bàn toàn huyện Ba Vì (7/20 ca), trong đó có 5 ca mắc ở PNTSĐ từ 18 - 49 tuổi [26]. Trước tình hình dịch Rubella xảy ra trên phạm vi rộng và có nguy cơ quay trở lại với chu kỳ dịch 2 - 5 năm [18], nhằm giảm thiểu gánh nặng do Rubella gây ra, đặc biệt là CRS, cần thiết phải tăng cường công tác phòng bệnh Rubella, đặc biệt cho đối tượng PNTSĐ. Bệnh Rubella chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nên chỉ có thể phòng bệnh bằng cách tiêm vắc xin Rubella. Vắc xin phối hợp Sởi - Rubella (Measle - Rubella: MR) đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) từ năm 2015 cho trẻ 18 tháng tuổi thay thế mũi sởi nhắc lại.
CTTCMR và các đợt tiêm chiến dịch vắc xin MR đã bao phủ hầu hết trẻ em trong độ tuổi từ 1 - 17 tuổi [6]. Tuy nhiên, với đối tượng PNTSĐ từ 18 - 49 tuổi thì việc tiêm vắc xin Rubella là theo nhu cầu, người tiêm phải trả phí khi sử dụng dịch vụ của mình. Việc tiêm phòng cho PNTSĐ tạo nên một sự bảo vệ chống lại việc lây nhiễm Rubella trong thai kỳ bảo vệ được thai nhi và tránh được hậu quả nhiễm Rubella bẩm sinh. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Thực trạng tiêm vắc xin Rubella trước khi mang thai của phụ nữ mang thai, có con dưới 12 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại phường Trung Tự, quận Đống Đa và xã Thụy An, huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2016.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tiêm vắc xin Rubella trước khi mang thai của phụ nữ mang thai và có con dưới 12 tháng tuổi tại phường Trung Tự, quận Đống Đa và xã Thụy An, huyện Ba Vì năm 2016. Mô tả kiến thức của phụ nữ mang thai và có con dưới 12 tháng tuổi về bệnh Rubella và vắc xin phòng bệnh Rubella tại phường Trung Tự, quận Đống Đa và xã Thụy An, huyện Ba Vì năm 2016. Xác định một số yếu tố liên quan đến việc tiêm vắc xin Rubella trước khi mang thai của phụ nữ mang thai và có con dưới 12 tháng tuổi tại phường Trung Tự, quận Đống Đa và xã Thụy An, huyện Ba Vì năm 2016.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về vắc xin Rubella Tiêm chủng: là biện pháp sử dụng vắc xin để tạo miễn dịch chủ động cho cơ thể người nhằm phòng một số bệnh truyền nhiễm phổ biến [3]. Vắc xin: là vật liệu chế từ vi sinh vật hoặc kháng nguyên đặc hiệu của chúng để đưa vào cơ thể của người nhằm gây miễn dịch chủ động cho cộng đồng và phòng bệnh truyền nhiễm do chính các vi sinh vật tương ứng gây ra [3]. Vắc xin Rubella: là vắc xin sống, giảm độc lực (dạng đông khô) được điều chế từ vi rút Rubella chủng Wistar RA 27/3, vắc xin ở dạng đơn (Rubella đơn) hoặc dạng phối hợp MR, Sởi - Quai bị - Rubella (MMR) [34].
Tổng quan về bệnh Rubella 1. Định nghĩa bệnh Rubella Bệnh Rubella (còn gọi là bệnh Sởi Đức hoặc Rubeon) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Rubella gây ra. Tên Rubella có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là “nhỏ màu đỏ” [39]. Trên lâm sàng, bệnh khó phân biệt với các bệnh sốt phát ban khác nhất là với Sởi và có tới 50% trường hợp bệnh biểu hiện lâm sàng không điển hình [6], do vậy bệnh có tính lây truyền cao và có thể gây thành dịch lớn.
Dịch tễ học bệnh Rubella 1. Tác nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh là vi rút Rubella. Đây là vi rút thuộc họ Togavirus, chủng Rubivirus, được phân lập vào năm 1962. Vi rút Rubella chứa vật liệu di truyền là ARN, có vỏ bọc.
Virus này có duy nhất 1 type kháng nguyên, không có phản ứng chéo với các thành viên khác trong họ Togavirus. Vi rút chỉ tồn tại và nhân lên trong tế bào của cơ thể. Sức đề kháng của vi rút Rubella ở môi trường ngoài rất yếu, dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng thông thường như: dung môi hòa tan mỡ, formalin, tia cực tím, axít yếu, nhiệt độ cao… [21], [51]. Nguồn truyền nhiễm Người là ổ chứa duy nhất.
Các trường hợp nhiễm Rubella thải vi rút qua chất nhày mũi họng. Thời kỳ ủ bệnh kéo dài 14 - 21 ngày, trung bình 18 ngày. Thời kỳ lây truyền kéo dài từ 7 ngày trước cho tới 7 ngày sau phát ban. Trẻ em mắc Rubella 5 bẩm sinh có thể đào thải vi rút trong dịch tiết hầu họng, trong nước tiểu đến 1 năm sau sinh và là nguồn truyền nhiễm quan trọng cho những người tiếp xúc.
Trên lâm sàng, bệnh khó phân biệt với các bệnh sốt phát ban khác nhất là với Sởi và có tới 50% trường hợp bệnh biểu hiện lâm sàng không điển hình [4]. Trường hợp nhiễm Rubella không có triệu chứng hoặc triệu chứng không rõ ràng cũng có thể trở thành nguy cơ cao lây nhiễm bệnh. Đường truyền nhiễm Bệnh lây qua đường hô hấp do hít phải các dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bắn ra được khuếch tán trong không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với chất tiết đường mũi họng của bệnh nhân. Bệnh thường xảy ra ở điều kiện sống chật hẹp, kín như nhà trẻ, trường học, trại lính,…[44].
Tính cảm nhiễm và miễn dịch Tất cả những người chưa có miễn dịch đều có nguy cơ mắc bệnh Rubella nếu tiếp xúc với nguồn bệnh. Miễn dịch chủ động được tạo ra sau khi mắc bệnh hoặc sau khi tiêm vắc xin. Miễn dịch sau khi mắc bệnh thường bền vững và tồn tài suốt đời. Miễn dịch sau khi tiêm vắc xin phụ thuộc vào các trường hợp bệnh lưu hành tại địa phương.
Cơ thể mẹ có miễn dịch sẽ truyền sang con và có thể bảo vệ trẻ trong vòng 6 - 9 tháng. Sau khi hết kháng thể mẹ truyền, trẻ đều có tính cảm nhiễm với bệnh [59], [35], [44]. Hệ thống giám sát bệnh Rubella [4] Ở Việt Nam, số liệu về bệnh Rubella bắt đầu được giám sát từ năm 2003 và hệ thống giám sát điểm CRS được thiết lập từ năm 2011 [12]. Việc phân biệt trường hợp bệnh sốt phát ban do Sởi hay Rubella phải dựa trên xét nghiệm chẩn đoán.
Nếu chỉ dựa trên triệu chứng lâm sàng thì việc phân biệt rất khó khăn. Do đó, hệ thống giám sát được thực hiện lồng ghép bệnh Sởi với bệnh Rubella để tăng cường hiệu quả của công tác phòng chống dịch bệnh. Các trường hợp sốt phát ban nghi Sởi/Rubella cần được điều tra dịch tễ và xét nghiệm. Khi có dịch sốt phát ban nghi Rubella hoặc Sởi xảy ra, ngoài việc báo cáo ngay những trường hợp mắc bệnh trong vòng 24 giờ phải quản lý và cách ly bệnh nhân ở phòng riêng, không cho bệnh nhân tiếp xúc với người chưa có miễn dịch đặc 6 biệt là thai phụ.
Trẻ em mắc bệnh không được đến trường học và người lớn mắc bệnh cũng không được đến nơi làm việc trong 7 ngày sau khi phát ban. Trẻ sinh ra có CRS có thể làm lây lan vi rút Rubella trong thời gian dài. Bởi vậy, tất cả những người được tiếp xúc với trẻ có CRS phải có miễn dịch đối với Rubella. Những trẻ có CRS phải được cách ly tiếp xúc.
Sự cách ly này phải được kiểm soát trong 1 năm, đồng thời sát trùng tấy uế đối với các chất thải của bệnh nhân đang mắc Rubella, trừ khi có kết quả phân lập vi rút Rubella từ dịch hầu họng, nước tiểu âm tính sau 3 tháng tuổi. Triệu chứng bệnh Rubella - Thời kỳ ủ bệnh: Người bệnh tiếp xúc với nguồn lây có thời gian ủ bệnh từ 12 - 23 ngày. Đây là thời kỳ bệnh dễ lây lan nhất do người bệnh đã nhiễm vi rút nhưng chưa có biểu hiện bệnh.