Luận án tiến sĩ nghiên cứu thu nhận tinh dầu và nhựa dầu từ chi gừng zingiber thuộc họ gừng zingiberaceae và ứng dụng vào công nghệ thực phẩm

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thu nhận tinh dầu và nhựa dầu từ chi gừng Zingiber, ứng dụng trong công nghệ thực phẩm, mở ra tiềm năng mới.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

209
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về chi gừng

1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố, phân loại

1.3. Thành phần hóa học

1.4. Tinh dầu gừng và nhựa dầu gừng

1.4.1. Tinh dầu gừng

1.4.2. Nhựa dầu gừng

1.5. Các phương pháp thu nhận tinh dầu, nhựa dầu

1.5.1. Các phương pháp thu nhận tinh dầu

1.5.2. Phương pháp thu nhận nhựa dầu

1.6. Các phương pháp tạo bột hương liệu chất thơm

1.7. Vai trò của gừng trong đời sống con người

1.8. Tình hình sử dụng và nghiên cứu gừng ở Việt Nam và trên thế giới

1.8.1. Trên thế giới

1.9. Ứng dụng gừng trong công nghệ thực phẩm

1.9.1. Chất thơm sử dụng trong sản xuất bánh, kẹo, đồ uống và chế biến các món ăn

1.9.2. Ứng dụng làm thuốc

1.9.3. Tác dụng chống nấm, vi sinh vật và chống oxy hóa của gừng. Ứng dụng của nhựa gừng để làm chất bảo quản thực phẩm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các loài mẫu gừng nghiên cứu

2.2. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu sử dụng

2.2.1. Hóa chất sử dụng

2.2.2. Thiết bị nghiên cứu

2.3. Phương pháp lấy mẫu nguyên liệu gừng

2.4. Các phương pháp phân tích

2.4.1. Xác định tỷ lệ thu hồi thịt củ gừng bằng phương pháp tính phần trăm

2.4.2. Xác định độ ẩm của củ gừng bằng phương pháp chưng cất với toluene

2.4.3. Xác định lượng tinh dầu củ gừng bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước

2.4.4. Phân tích hàm lượng tinh bột trong củ gừng

2.4.5. Phân tích hàm lượng cellulose trong củ gừng theo TCVN 5103:1990

2.4.6. Phân tích hàm lượng tro trong củ gừng theo TCVN 9939:2013

2.4.7. Phân tích cảm quan của tinh dầu theo TCVN 8460:2010

2.4.8. Xác định tỷ trọng của tinh dầu theo TCVN 8444:2010

2.4.9. Xác định góc quay cực theo TCVN 8446:2010

2.4.10. Xác định chỉ số khúc xạ theo TCVN 8445:2010

2.4.11. Xác định chỉ số acid theo TCVN 8450:2010

2.4.12. Xác định chỉ số ester của tinh dầu theo TCVN 8451:2010

2.4.13. Xác định hàm lượng aldehyde theo TCVN 189:1993 (Phương pháp natri sunfat - aldehyde cinnamic)

2.4.14. Xác định độ hòa tan trong ethanol theo TCVN 8449:2010

2.4.15. Xác định cấu tử của tinh dầu gừng bằng phương pháp GC/MS

2.4.16. Xác định cấu tử của nhựa dầu gừng bằng phương pháp LC/MS

2.4.17. Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất trong nhựa dầu gừng

2.4.18. Xác định hoạt tính chống oxy hóa - khả năng quét gốc tự do DPPH

2.4.19. Xác định hoạt tính kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán thạch

2.4.20. Phương pháp đánh giá thị hiếu sản phẩm

2.4.21. Các phương pháp bố trí thí nghiệm

2.4.22. Tối ưu hóa quy trình chưng cất tinh dầu gừng theo phương pháp đáp ứng bề mặt

2.4.23. Tối ưu hóa quá trình trích ly nhựa dầu gừng theo phương pháp đáp ứng bề mặt

2.4.24. Bố trí thí nghiệm bổ sung hương liệu vào rượu

2.4.25. Bố trí thí nghiệm bổ sung hương liệu nhựa dầu gừng vào sản phẩm chè đen

2.4.26. Nghiên cứu tận dụng phụ phẩm bã gừng vào công nghệ sản xuất khác

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu xác định chất lượng nguyên liệu, tính chất hóa lý và thành phần hóa học của tinh dầu và nhựa dầu từ củ 7 loài gừng (Z. zerumbet) tự nhiên khu vực Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), Việt Nam

3.1.1. Khảo sát chất lượng nguyên liệu

3.1.2. Xác định chỉ số hóa lý của tinh dầu gừng

3.1.3. Thành phần hóa học của tinh dầu gừng

3.1.4. Xác định các cấu tử của nhựa dầu gừng

3.2. Nghiên cứu xây dựng quy trình thu nhận tinh dầu, nhựa dầu gừng, xác định hoạt tính sinh học của tinh dầu và nhựa dầu từ củ gừng loài Z. collinsii tự nhiên khu vực Bắc Trung Bộ, Việt Nam

3.2.1. Nghiên cứu xây dựng quy trình thu nhận tinh dầu gừng

3.2.2. Xây dựng quy trình trích ly nhựa dầu gừng

3.2.3. Xác định công thức cấu tạo của một số hợp chất có trong nhựa dầu gừng từ củ gừng loài Z. collinsii tự nhiên khu vực Bắc Trung Bộ, Việt Nam

3.3. Nghiên cứu quy trình công nghệ sử dụng tinh dầu, nhựa dầu gừng vào một số sản phẩm thực phẩm

3.3.1. Ứng dụng vào sản phẩm chè đen

3.3.2. Sản xuất rượu gừng

3.4. Đề xuất giải pháp công nghệ sử dụng các phụ phẩm từ quá trình thu nhận chất thơm (tinh dầu và nhựa dầu) vào một số lĩnh vực khác: sản xuất tinh bột và làm giá thể trồng nấm

3.4.1. Sản xuất tinh bột từ bã gừng

3.4.2. Ứng dụng bã gừng làm giá thể trồng cây

3.4.3. Đề nghị quy trình công nghệ khép kín đối với sản phẩm gừng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về chi gừng

Chi gừng (Zingiber) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) là một nhóm thực vật có giá trị cao trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ thực phẩm và y học. Các loài trong chi này phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là Đông Nam Á. Tinh dầu gừngnhựa dầu gừng là hai sản phẩm chính được chiết xuất từ củ gừng, có nhiều ứng dụng trong công nghiệp và đời sống. Nghiên cứu này tập trung vào việc thu nhận và ứng dụng các sản phẩm này trong công nghệ thực phẩm, đồng thời tận dụng các phụ phẩm để tạo ra giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường.

1.1. Đặc điểm thực vật phân bố phân loại

Chi gừng bao gồm các loài thực vật thân thảo, sống lâu năm, thường mọc ở vùng đất ẩm, dưới tán rừng hoặc trên đất lẫn sỏi đá. Các loài trong chi này có thân giả được tạo thành từ các bẹ lá, cao từ 1 đến 5 mét. Zingiber là chi có giá trị kinh tế cao, với các loài như Zingiber officinale (gừng thường) và Zingiber zerumbet được sử dụng rộng rãi. Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên gừng phong phú, với 19 chi và 144 loài được ghi nhận.

1.2. Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của gừng bao gồm các hợp chất như gingerol, shogaol, và zingerone, là những chất tạo nên vị cay và mùi thơm đặc trưng của gừng. Tinh dầu gừng chứa các hợp chất monoterpen và sesquiterpen, trong khi nhựa dầu gừng chứa các hợp chất phenolic có tác dụng chống oxy hóa và kháng khuẩn. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của gừng đã mở ra nhiều ứng dụng tiềm năng trong công nghệ thực phẩm và dược phẩm.

II. Phương pháp thu nhận tinh dầu và nhựa dầu

Nghiên cứu này tập trung vào việc tối ưu hóa các phương pháp thu nhận tinh dầu gừngnhựa dầu gừng từ các loài gừng tự nhiên. Các phương pháp chính bao gồm chưng cất hơi nước và trích ly dung môi. Quy trình chưng cất được tối ưu hóa bằng cách sử dụng phương pháp đáp ứng bề mặt, giúp tăng hiệu suất thu hồi tinh dầu. Công nghệ chiết xuất hiện đại như siêu âm và enzyme cũng được áp dụng để nâng cao hiệu quả quá trình.

2.1. Phương pháp chưng cất tinh dầu

Phương pháp chưng cất hơi nước là kỹ thuật phổ biến để thu nhận tinh dầu gừng. Nghiên cứu đã tối ưu hóa quy trình bằng cách điều chỉnh thời gian chưng cất, nhiệt độ, và áp suất. Kết quả cho thấy việc sử dụng siêu âm và enzyme α-amylase giúp tăng đáng kể lượng tinh dầu thu được. Phương pháp này không chỉ hiệu quả mà còn thân thiện với môi trường.

2.2. Phương pháp trích ly nhựa dầu

Nhựa dầu gừng được trích ly bằng dung môi hữu cơ như ethanol hoặc hexane. Quy trình trích ly được tối ưu hóa bằng phương pháp đáp ứng bề mặt, giúp xác định điều kiện tối ưu về thời gian, nhiệt độ, và tỷ lệ dung môi. Kết quả cho thấy nhựa dầu thu được có hàm lượng các hợp chất phenolic cao, có tiềm năng ứng dụng trong công nghệ chế biến thực phẩm và dược phẩm.

III. Ứng dụng trong công nghệ thực phẩm

Tinh dầu gừngnhựa dầu gừng có nhiều ứng dụng trong công nghệ thực phẩm, từ việc làm hương liệu đến chất bảo quản tự nhiên. Nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp công nghệ để ứng dụng các sản phẩm này vào sản xuất rượu, trà, và các sản phẩm thực phẩm khác. Đồng thời, các phụ phẩm từ quá trình chiết xuất cũng được tận dụng để sản xuất tinh bột và làm giá thể trồng nấm.

3.1. Ứng dụng trong sản xuất rượu và trà

Tinh dầu gừng được sử dụng làm hương liệu trong sản xuất rượu, mang lại hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng cao. Nhựa dầu gừng được bổ sung vào trà đen, giúp tăng cường hương vị và tác dụng chống oxy hóa. Các sản phẩm này được đánh giá cao về chất lượng và mức độ yêu thích của người tiêu dùng.

3.2. Tận dụng phụ phẩm

Các phụ phẩm từ quá trình chiết xuất tinh dầu gừngnhựa dầu gừng được tận dụng để sản xuất tinh bột và làm giá thể trồng nấm. Quy trình này không chỉ tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu chất thải.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu (3 trang), tổng quan (28 trang), phương pháp và thực nghiệm (27 trang), kết quả và thảo luận (76 trang), kết luận (2 trang), danh mục công trình công bố (1 trang), tài liệu tham khảo (13 trang), phụ lục (46 trang). 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi gừng 1. Đặc điểm thực vật, phân bố, phân loại 1.

Đặc điểm thực vật Bộ gừng (danh pháp khoa học là Zingiberales) là một bộ thực vật có hoa bao gồm nhiều loài thực vật tương tự nhau như gừng, đậu khấu, nghệ, cũng như chuối và hoàng tinh. Trong hệ thống Cronquist năm 1981 bộ này chứa cùng tám họ nhưng bộ này được coi như là thuộc về phân lớp gừng (Zingiberidae), phân lớp này lại thuộc về lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida). Phân lớp gừng này còn chứa cả bộ dứa (Bromeliales), bao gồm một họ duy nhất là họ dứa (Bromeliaceae), một họ mà APG II đưa vào trong bộ hòa thảo (Poales). Họ gừng (Zingiberaceae) gồm những cây thân thảo sống nhiều năm, mọc ở nơi đất ẩm, nơi sáng, dưới tán rừng hay vách đá ẩm.

Một số loài có thể mọc trên đất lẫn sỏi đá, trên bãi đất trống hoặc trong rừng thứ sinh, rừng thưa lên tới độ cao 3000 m so với mặt nước biển [10]. Thân được tạo thành do các bẹ lá ôm chặt lấy nhau tạo thành thân giả, cao 1-3-4(-5) m hay mảnh, cao dưới 1 m hoặc rất ngắn hay không có do các bẹ lá rời đến gốc (Distichochlamys, Kaempferia, v.v…), thân giả không phân nhánh. Rễ nhỏ, hình sợi, đôi khi đầu dễ phình to thành dạng củ (Curcuma, Kaempfria, Stahlianthus, v.v…), ở một số loài, rễ thẳng, cứng, đâm sâu xuống đất, phần trên lộ trên mặt đất. Thân rễ (thường được gọi là củ) to, nạc, nằm ngang dưới mặt đất.

Thân rễ các loại cây thuộc chi gừng phát triển rất nhanh. Từ một chồi giống ban đầu, chúng có thể phân nhánh, đâm chồi, tăng sinh khối và phát triển thành một bụi lớn chỉ trong một vài năm. Cây thường có chứa mùi thơm, đôi khi mùi hắc như một số loài trong chi gừng (Zingiber). Nhiều loài là các loại cây cảnh, cây gia vị, hay cây thuốc quan trọng.

Các thành viên quan trọng nhất của họ này bao gồm gừng, nghệ, riềng, đậu khấu và sa nhân. Các cây thuộc họ gừng (Zingiberaceae) là cây thảo sống lâu năm, có thân rễ lớn, thường phân nhánh, chứa nhiều chất dự trữ [14], [16]. Lá gồm các phần: bẹ lá, cuống lá, lưỡi lá và phiến lá. Hoa lưỡng tính, bầu hạ, đối xứng hai bên, có màu sắc, kích thước trung bình hoặc lớn.

Quả nang chẻ ô, đôi khi quả mọng, quả nạc, thường hình cầu, bầu dục, đường kính từ 0,2 cm đến 2 ÷ 3(4) cm [16]. Phân bố Nước ta có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, thảm thực vật đa dạng và phong phú đặc biệt là các cây tinh dầu và cây thuốc. Đông Nam Á là trung tâm phong phú và đa dạng nhất của chi gừng. Trong số các loài gừng trồng thì loài Z.

officinale được trồng phổ biến nhất. officinale đã được trồng rộng rãi từ rất lâu đời ở các nước nhiệt đới châu Á. Đến nay vẫn chưa thấy loài gừng này mọc dại ở bất cứ khu vực nào trên thế giới. Một số giả thiết cho rằng gừng có nguồn gốc ở Ấn Độ, từ đây nó được đưa đến các nước châu Âu, các nước Đông Phi bởi những thương nhân Ả Rập.

Trong những năm gần đây phát hiện thêm một loài gừng nữa có tên gừng môi tím đốm (Z. Hiện nay gừng Z. 5 officinale đã được đưa trồng ở hầu khắp các nước trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm. Ở Việt Nam gừng Z.

officinale được trồng trên khắp các địa phương từ Bắc vào Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi và ngoài hải đảo [14], [17]. Larsen và cs đã tổng hợp các chi và loài của họ Gừng trên thế giới [91]. Bằng các phương pháp phân tích AND kết hợp với phân tích đặc điểm truyền thống J. Kress và cs (2002), đã công bố đầy đủ về họ gừng gồm 53 chi được xếp trong 4 phân họ là: Siphonochiloideae, Tamijoideae, Alpinioideae và Zingiberoideae [87].

Nghiên cứu đầy đủ và có tính hệ thống nhất về họ Gừng ở Việt Nam có công trình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Bình (2011), tác giả đã công bố ở Việt Nam có 19 chi với 144 loài và thứ [17]. Trong 19 chi thì có 14 chi với 64 loài được sử dụng trong các lĩnh vực như làm thuốc, làm gia vị, làm cảnh và cho tinh dầu [4]. Phân loại và phân bố của các loài chi gừng ở Việt Nam TT Tên khoa học Tên Việt Nam Phân bố 1 Z. officinale Roscoe Gừng Phân bố rộng 2 Z.

acuminatum Valeton Gừng nhọn Tây Nguyên, Trung Bộ 3 Z. Gừng Nam Bộ Bà Rịa - Vũng Tàu 4 Z. Gừng Eberhardt Lâm Đồng 5 Z. Gừng lúa, Ngải Trặc Biên Hòa 6 Z.

Gừng một lá Ninh Bình 7 Z. Gừng bọc da Bà Rịa - Vũng Tàu 8 Z. purpureum Roscoe Gừng tía (gừng dại) Phân bố rộng 9 Z. Gừng đỏ Lâm Đồng 10 Z.

Gừng lông hung Ba Vì, Vĩnh Phúc 11 Z. Gừng gió Phân bố rộng 12 Z. Theilade Gừng môi tím đốm Sơ Pai, Kban, Gia Lai 13 Z. collinsii Mood & Theilade Gừng colin Bắc Trung Bộ Trong ngành thực vật hạt kín thì họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) không phải là họ lớn, chỉ có khoảng 50 chi, 1.300 loài nhưng đây lại là họ có số lượng lớn các loài có giá trị sử dụng trong nhiều lĩnh vực: y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm [146].

Các loài trong họ Gừng phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, v. Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, do đó có nguồn tài nguyên họ gừng rất đa dạng, hiện biết 19 chi, 141 loài và 3 thứ [1]. Trong số 19 chi, 144 loài và thứ thì có khoảng 14 chi, 64 loài được khai thác và sử dụng trong nhiều lĩnh vực từ các bộ phận khác nhau (thân, rễ, hạt, hoa, quả) [1], [10], [14], [51]. Do vậy, nghiên cứu họ Gừng (Zingiberaceae Lindl.) để có cơ sở khoa học nhằm khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học.

6 Trong số các nhóm cây tài nguyên thực vật thì nhóm cây cho tinh dầu chiếm vị trí quan trọng. Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu của nhiều ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm, v. Ở Việt Nam họ gừng có khoảng 38/141 loài có tinh dầu thuộc 11/19 chi. Khu vực Bắc Trung Bộ được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học về các loài thuộc chi Gừng của Việt Nam.

Chúng là loài cây thân thảo sống nhiều năm thích nghi được ở nơi đất ẩm, nơi sáng, dưới tán rừng hay vách đá ẩm, hoặc có thể mọc trên đất lẫn sỏi đá, trên bãi đất trống.tạo nên nguồn nguyên liệu dồi dào cho nghiên cứu, sản xuất ứng dụng trong thực phẩm, dược phẩm. Thành phần hóa học Mặc dù các loài khác nhau của chi này có phần tương đồng về hình thái, nhưng chúng khác nhau về tính chất dược lý và thành phần hóa học cơ [66]. Nói chung thành phần hóa học của củ gừng tùy thuộc vào loại giống, khí hậu đất đai, chế độ chăm bón và thời điểm thu hoạch, v. Gừng tươi thường chứa hơn 80% ẩm, 2,3% protein, 0,9% chất béo, 1,2% chất khoáng, 2,4% chất xơ, 12,3% hợp chất carbohydrate và các thành phần vi lượng như chất khoáng (sắt, calcium, phosphorus), các vitamin (thiamine, riboflavin, niacin, acid ascorbic.

Chất thơm là những chất có khả năng bay hơi, hay bay hơi một phần trong không khí. Các chất thơm có thể ở dạng đơn hay hỗn hợp các chất, có thể là chất rắn hay chất lỏng hoặc khí. Đến nay người ta đã xác định được khoảng 7000 chất bay hơi trong thực phẩm, các chất này chủ yếu thuộc các nhóm chất aldehyde, ketone, các acid hữu cơ, ester, v. Chất thơm là một hỗn hợp nhiều thành phần có thể là alcohol được hình thành đầu tiên trong chlorophoit, hay ester do phản ứng ester hoá của các acid với alcohol trong chloroplast hoặc terpene alcohol do sự đồng phân hoá [12].

Qua phân tích hiện đại có tới trên 400 hoạt chất trong gừng. Người ta chia làm 4 loại chính. Chất nhựa: Chiếm 5 10% trong gừng tươi, gồm khoảng 30 hoạt chất trong đó có 2 chất chính là gingerol và shoagol có vị cay hơn. Gừng tươi nhiều gingerol nhưng khi phơi mất nước dần chuyển thành shoagol vì thế gừng khô cay hơn.

Tinh dầu: Chiếm 2 3% trong gừng khô, màu vàng sáng nhạt có mùi thơm đặc biệt gồm trên 200 chất mà thành phần chủ yếu là α-camphene, β-phelandrene, các phenol (cineol, citral, borneol, geraniol, linalol, zingiberol). Ngoài ra còn có 3,7% lipid, tinh bột và 5% nhựa dầu trong đó có các chất cay như zingerone, zingerol và shogaol. Chất khoáng: Vi lượng có k m (Zn), selenium (Se), cobalt (Co). Người ta vừa phát hiện có một chất men có trong gừng là zingibain (có khoảng 2% trong gừng tươi) có tác dụng phân giải protein (proteolytic) tương tự như chất papain (trong đu đủ) hoặc chất bromelain (trong dứa), 1 g chất zingibain có khả năng làm mềm 10 kg thịt b.

7 Ngoài ra một số hoạt chất có nhiều ở nghệ như curcumin, ớt như capsaicin, chanh như limonene, hạt cà phê như acid caffeic, hạt đậu như lecithin đều có trong gừng. Trong gừng gió có nhiều tinh dầu, dầu béo và nhựa. Tinh dầu có 13% các monoterpene và nhiều sesquiterpene, trong đó humulene chiếm 27%, monocylic sesquiterpene ketone, zerumbon 37,5%. Các monoterpene gồm pinene, camphene, limonene, cineol và campho.

Thành phần hóa học của củ gừng tùy thuộc vào giống, môi trường sinh trưởng, điều kiện sinh dưỡng và thời điểm thu hoạch, v. Gừng tươi thường chứa hàm ẩm cao, các thành phần dinh dưỡng (protein, chất béo, chất khoáng, chất xơ, hợp chất carbohydrate, chất khoáng, các vitamin.) đều được xác định có trong gừng. Thành phần tạo hương của gừng là tinh dầu và tạo vị là nhựa dầu. Tinh dầu gừng và nhựa dầu gừng 1.

Tinh dầu gừng 1. Thành phần hóa học Gừng chứa 2 ÷ 3% tinh dầu với thành phần chủ yếu là các hợp chất hydrocarbon sesquiterpeneic: β-zingiberene (35%), ar-curcumenene (17%), β-farnesene (10%) và một lượng nhỏ các hợp chất alcohol monoterpeneic như geraniol, linalol, borneol [8]. Mùi thơm của gừng phụ thuộc chủ yếu vào tinh dầu dễ bay hơi của nó, năng suất dao động từ 1 ÷ 5%. Hơn 50 thành phần tinh dầu đã được đặc trưng và đây là chủ yếu monoterpeneoid [- phellandrene, (+)-camphene, cineole, geraniol, curcumene, citral, terpineol, borneol] và sesquiterpeneoid [-zingiberene (30÷70%), -sequiphellandrene (15 ÷ 20%), -bisabolene (10 ÷ 15%), (E-E)--farnesene, ar-curcumene, zingiberol].

Một số thành phần tinh dầu được chuyển đổi thành ít mùi xác định các hợp chất làm khô [82].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thu nhận tinh dầu và nhựa dầu từ chi gừng Zingiber và ứng dụng trong công nghệ thực phẩm" tập trung vào việc khai thác và tối ưu hóa quy trình chiết xuất tinh dầu và nhựa dầu từ các loài thuộc chi gừng Zingiber. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các phương pháp thu nhận hiệu quả mà còn đề xuất ứng dụng của chúng trong ngành công nghệ thực phẩm, mang lại giá trị kinh tế và sức khỏe. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về tiềm năng của các hợp chất tự nhiên này trong việc bảo quản thực phẩm, tăng cường hương vị và hỗ trợ sức khỏe.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến hóa học và ứng dụng thực tiễn, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu về các hợp chất hóa học và tác động của chúng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về phương pháp phân tích hóa học trong thực tiễn. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình sẽ giúp bạn khám phá thêm các ứng dụng của hóa học trong đánh giá môi trường.