Khảo Sát Thoái Hóa Hoàng Điểm Tuổi Già Thể Ơt Bằng OCT-A

Chuyên khảo phân tích Khảo sát thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ướt bằng oct a, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Nhãn Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Y Học

2020

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cƣơng về võng mạc

1.2. Bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già

1.3. Thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ƣớt trên chụp mạch huỳnh quang (FA)

1.4. Thoái hóa hoàng điểm tuổi già trên chụp cắt lớp cố kết quang học (OCT)

1.5. Thoái hóa hoàng điểm tuổi già trên chụp cắt lớp cố kết quang học mạch máu (OCT-A)

1.6. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh nhân thoái hóa hoàng điểm tuổi già

3.2. Đặc điểm của mắt tổn thương thoái hóa hoàng điểm tuổi già

3.3. Mối tương quan giữa các tổn thương thoái hóa hoàng điểm tuổi già trên FA, OCT và OCT-A

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm bệnh nhân thoái hóa hoàng điểm tuổi già

4.2. Đặc điểm thoái hóa hoàng điểm tuổi già trên FA, OCT và OCT-A

4.3. Mối tương quan giữa FA, OCT và OCT-A trong bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Thoái Hóa Hoàng Điểm và OCT A

Nghiên cứu về thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) thể ướt bằng OCT-A đang ngày càng trở nên quan trọng. Thoái hóa hoàng điểm là một rối loạn thoái hóa ảnh hưởng đến vùng hoàng điểm, gây mất thị lực trung tâm nghiêm trọng và không hồi phục. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đây là nguyên nhân thứ ba gây mù trên thế giới. Bệnh đặc trưng bởi drusen và biến đổi biểu mô sắc tố võng mạc. Bệnh được chia làm thể khô và thể ướt, trong đó thể ướt gây giảm thị lực nghiêm trọng với các biểu hiện tân mạch hắc mạc (TMHM). Việc phát hiện sớm THHĐTG thể ướt là điều cần thiết để có hướng điều trị kịp thời. OCT-A là một kỹ thuật không xâm lấn, cung cấp hình ảnh mạch máu võng mạc chi tiết, giúp chẩn đoán và theo dõi bệnh hiệu quả hơn so với các phương pháp truyền thống như chụp mạch huỳnh quang (FA).

1.1. Thoái Hóa Hoàng Điểm Tuổi Già Định Nghĩa và Phân Loại

Thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) là bệnh lý gây tổn thương vùng hoàng điểm, dẫn đến suy giảm thị lực trung tâm. Bệnh được chia thành hai loại chính: thể khô và thể ướt. Thể khô chiếm đa số các trường hợp, tiến triển chậm và gây giảm thị lực từ từ. Thể ướt, mặc dù ít gặp hơn, nhưng tiến triển nhanh chóng và gây mất thị lực nghiêm trọng do sự phát triển của tân mạch hắc mạc (TMHM).

1.2. OCT A Công Nghệ Chẩn Đoán Hình Ảnh Mạch Máu Vọng Mạc Tiên Tiến

OCT-A (Optical Coherence Tomography Angiography) là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, sử dụng ánh sáng để tạo ra hình ảnh chi tiết của các mạch máu trong võng mạc và hắc mạc. OCT-A cung cấp thông tin về cấu trúc và lưu lượng máu, giúp phát hiện sớm các bất thường mạch máu liên quan đến thoái hóa hoàng điểm và các bệnh lý khác.

II. Thách Thức Trong Chẩn Đoán THHĐTG Thể Ướt và Vai Trò OCT A

Chẩn đoán THHĐTG thể ướt, đặc biệt là phát hiện tân mạch hắc mạc, là một thách thức lớn. Chụp mạch huỳnh quang (FA) là tiêu chuẩn vàng trước đây, nhưng lại xâm lấn và có thể gây tác dụng phụ. OCT giúp hỗ trợ chẩn đoán, nhưng không cung cấp thông tin chi tiết về mạch máu. OCT-A nổi lên như một giải pháp thay thế tiềm năng, cung cấp hình ảnh mạch máu 3D với độ phân giải cao mà không cần tiêm thuốc cản quang. Nghiên cứu này đánh giá vai trò của OCT-A trong chẩn đoán THHĐTG thể ướt, đặc biệt là phát hiện TMHM, so với FA và OCT truyền thống.

2.1. Hạn Chế Của Chụp Mạch Huỳnh Quang FA Trong Chẩn Đoán THHĐTG

Mặc dù chụp mạch huỳnh quang (FA) là phương pháp chẩn đoán tân mạch hắc mạc (TMHM) được sử dụng rộng rãi trong quá khứ, nhưng nó có một số hạn chế. FA là một thủ thuật xâm lấn, đòi hỏi phải tiêm thuốc nhuộm vào tĩnh mạch, có thể gây ra các phản ứng dị ứng và các tác dụng phụ khác. Ngoài ra, FA chỉ cung cấp hình ảnh hai chiều của mạch máu, không thể hiện được cấu trúc ba chiều của TMHM.

2.2. Ưu Điểm Vượt Trội Của OCT A So Với Các Phương Pháp Chẩn Đoán Truyền Thống

OCT-A khắc phục được những hạn chế của FA và OCT truyền thống. OCT-A là một kỹ thuật không xâm lấn, không cần tiêm thuốc cản quang, do đó giảm thiểu nguy cơ tác dụng phụ. OCT-A cung cấp hình ảnh ba chiều của mạch máu với độ phân giải cao, cho phép các bác sĩ quan sát chi tiết cấu trúc và lưu lượng máu trong TMHM. Điều này giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn THHĐTG thể ướt.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Khảo Sát THHĐTG Thể Ướt Bằng OCT A

Nghiên cứu này tiến hành khảo sát đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân THHĐTG thể ướt và tần suất các loại tân mạch trên FA, OCT, và OCT-A. Mục tiêu là so sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của OCT-A so với FA trong phát hiện tân mạch. Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá khả năng của OCT-A trong việc thay thế FA, phương pháp chẩn đoán xâm lấn, trong thực hành lâm sàng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng về vai trò của OCT-A trong chẩn đoán và theo dõi THHĐTG thể ướt.

3.1. Đối Tượng Nghiên Cứu và Tiêu Chí Lựa Chọn Bệnh Nhân THHĐTG

Nghiên cứu này bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán mắc thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) thể ướt tại các cơ sở nhãn khoa. Tiêu chí lựa chọn bệnh nhân bao gồm: tuổi từ 50 trở lên, có các dấu hiệu lâm sàng của THHĐTG thể ướt, và đã được chụp mạch huỳnh quang (FA), chụp cắt lớp cố kết quang học (OCT), và chụp cắt lớp cố kết quang học mạch máu (OCT-A).

3.2. Quy Trình Chụp Ảnh và Phân Tích Kết Quả FA OCT và OCT A

Quy trình chụp ảnh bao gồm chụp mạch huỳnh quang (FA), chụp cắt lớp cố kết quang học (OCT), và chụp cắt lớp cố kết quang học mạch máu (OCT-A). Các hình ảnh được phân tích bởi các chuyên gia nhãn khoa có kinh nghiệm để xác định sự hiện diện và loại hình của tân mạch hắc mạc (TMHM), cũng như các tổn thương khác liên quan đến THHĐTG.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu So Sánh OCT A và FA Trong Phát Hiện TMHM

Kết quả nghiên cứu cho thấy OCT-A có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong phát hiện tân mạch hắc mạc so với FA. OCT-A cũng cung cấp thông tin chi tiết hơn về cấu trúc và lưu lượng máu trong TMHM, giúp phân loại và theo dõi bệnh hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng OCT-A có thể thay thế FA trong nhiều trường hợp, giảm thiểu sự xâm lấn và tác dụng phụ cho bệnh nhân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp phức tạp, FA vẫn cần thiết để xác định chẩn đoán.

4.1. Độ Nhạy và Độ Đặc Hiệu Của OCT A Trong Phát Hiện Tân Mạch Hắc Mạc

Nghiên cứu cho thấy OCT-A có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phát hiện tân mạch hắc mạc (TMHM) so với chụp mạch huỳnh quang (FA). Điều này có nghĩa là OCT-A có khả năng phát hiện chính xác sự hiện diện của TMHM và ít có khả năng cho kết quả âm tính giả hoặc dương tính giả.

4.2. Phân Tích Các Loại Tân Mạch Trên OCT A Cổ Điển Ẩn và RAP

OCT-A cho phép phân tích chi tiết các loại tân mạch hắc mạc (TMHM) khác nhau, bao gồm TMHM cổ điển, TMHM ẩn, và tăng sinh mạch máu võng mạc (RAP). OCT-A cung cấp hình ảnh rõ nét về cấu trúc và lưu lượng máu trong các loại TMHM này, giúp các bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Của OCT A Trong Điều Trị THHĐTG Thể Ướt

OCT-A không chỉ hữu ích trong chẩn đoán mà còn trong theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị THHĐTG thể ướt. OCT-A giúp bác sĩ theo dõi sự thay đổi của tân mạch sau điều trị bằng anti-VEGF, từ đó điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp. OCT-A cũng giúp phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát của bệnh, cho phép can thiệp kịp thời để ngăn ngừa mất thị lực.

5.1. Theo Dõi Hiệu Quả Điều Trị Anti VEGF Bằng OCT A

OCT-A là một công cụ hữu ích để theo dõi hiệu quả điều trị anti-VEGF ở bệnh nhân thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) thể ướt. OCT-A cho phép các bác sĩ quan sát sự thay đổi của tân mạch hắc mạc (TMHM) sau khi điều trị, giúp đánh giá xem liệu điều trị có hiệu quả hay không và có cần điều chỉnh phác đồ điều trị hay không.

5.2. Phát Hiện Sớm Tái Phát Bệnh THHĐTG Nhờ OCT A

OCT-A cũng có thể giúp phát hiện sớm tái phát bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) thể ướt. OCT-A có thể phát hiện sự xuất hiện trở lại của tân mạch hắc mạc (TMHM) trước khi các triệu chứng lâm sàng trở nên rõ ràng, cho phép can thiệp kịp thời để ngăn ngừa mất thị lực.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về OCT A và THHĐTG

Nghiên cứu này khẳng định vai trò quan trọng của OCT-A trong chẩn đoán và theo dõi THHĐTG thể ướt. OCT-A là một công cụ không xâm lấn, cung cấp thông tin chi tiết về mạch máu võng mạc, giúp chẩn đoán sớm, phân loại chính xác và theo dõi hiệu quả điều trị bệnh. Các nghiên cứu tương lai nên tập trung vào việc phát triển các thuật toán phân tích hình ảnh OCT-A tự động, giúp tăng tốc độ và độ chính xác của chẩn đoán. Ngoài ra, cần có thêm các nghiên cứu so sánh OCT-A với các phương pháp chẩn đoán khác, như chụp mạch nhuộm màu indocyanine xanh (ICGA), để xác định vai trò tối ưu của OCT-A trong thực hành lâm sàng.

6.1. Tóm Tắt Các Ưu Điểm Của OCT A Trong Chẩn Đoán và Điều Trị THHĐTG

OCT-A mang lại nhiều ưu điểm trong chẩn đoán và điều trị thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) thể ướt, bao gồm tính không xâm lấn, khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết về mạch máu võng mạc, giúp chẩn đoán sớm và chính xác, theo dõi hiệu quả điều trị, và phát hiện tái phát bệnh.

6.2. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Ứng Dụng Của OCT A

Các hướng nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng của OCT-A có thể tập trung vào việc phát triển các thuật toán phân tích hình ảnh tự động, so sánh OCT-A với các phương pháp chẩn đoán khác, và đánh giá vai trò của OCT-A trong việc dự đoán tiến triển bệnh và đáp ứng điều trị.

07/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hóa hoàng điểm tuổi già (THHĐTG) là một rối loạn thoái hóa ảnh hƣởng đến vùng hoàng điểm. Theo tổ chức Y Tế Thế Giới năm 2010 THHĐTG là nguyên nhân thứ ba gây mù trên thế giới [44]. Nó là nguyên nhân gây mất thị lực trung tâm nghiêm trọng và không hồi phục ở các nƣớc phát triển, trong đó 10-13% ngƣời trên 65 tuổi bị ảnh hƣởng [50]. Bệnh đặc trƣng bởi drusen (là chất lắng đọng ngoại bào giữa biểu mô sắc tố và màng Bruch) và biến đổi biểu mô sắc tố võng mạc.

Theo phân loại cổ điển bệnh đƣợc chia làm thể khô và thể ƣớt. Trong đó thể khô chiếm khoảng 90%, giai đoạn sau có teo võng mạc dạng bản đồ; còn thể ƣớt chiếm ít hơn nhƣng gây giảm thị lực nghiêm trọng với các biểu hiện tân mạch hắc mạc (TMHM), bệnh lý mạch máu dạng polyp hắc mạc (PCV), tăng sinh mạch máu võng mạc (RAP), bong biểu mô sắc tố (BMST) [33]. Hiện nay, không có phƣơng pháp điều trị cho THHĐTG thể khô, đối với thể ƣớt đa phần đƣợc đề nghị dùng chất ức chế tăng sinh mạch (anti-VEGF) để thay đổi tiến trình tự nhiên của bệnh. Tuy nhiên vấn đề về kinh tế và tác dụng phụ vẫn là vấn đề đáng quan tâm.

Chính vì vậy việc phát hiện sớm THHĐTG, đặc biệt là THHĐTG thể ƣớt với biểu hiện TMHM là điều cần thiết để có hƣớng điều trị kịp thời, giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí kinh tế. Hiện nay, tiêu chuẩn chẩn đoán TMHM đƣợc tin cậy là chụp mạch huỳnh quang (FA) và chụp cắt lớp cố kết quang học (OCT) [21], [32]. Trong đó FA là một phƣơng tiện cung cấp những chi tiết giải phẫu, mức độ hoạt động cũng nhƣ phân loại TMHM [16]; tuy nhiên, phƣơng tiện này lại xâm lấn, tốn nhiều thời gian thực hiện và có thể xảy ra những tai biến do tác dụng phụ của thuốc. [31]; vì vậy, hiện nay FA ít đƣợc sử dụng để theo dõi tiến triển của tân mạch.

OCT là một công cụ không xâm lấn, giúp ủng hộ chẩn đoán TMHM của FA, giúp ngƣời đọc thấy đƣợc cấu trúc các lớp võng mạc và BMST, cũng nhƣ những dấu hiệu hoạt động sớm của TMHM [23], [40]. Gần đây chụp cắt lớp cố kết quang học mạch máu (Optical Coherence Tomography Angiography) (OCT-A) đƣợc chấp nhận rộng rãi trong thực hành lâm sàng do không xâm lấn, cung cấp tuần hoàn hắc võng mạc và hình ảnh không gian 3 chiều của hắc võng mạc với độ phân giải cao [59], [41]. Chính vì vậy vấn đề đặt ra là vai trò của OCT-A và OCT cấu trúc trong chẩn đoán THHĐTG thể ƣớt, đặc biệt là phát hiện TMHM có thay thế đƣợc phƣơng pháp chẩn đoán cổ điển (FA) hay không? Nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát thoái hóa hoàng điểm tuổi già thể ƣớt bằng OCT-A”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Mục tiêu tổng quát: Đánh giá vai trò của OCT-A trong chẩn đoán và phân loại tân mạch ở bệnh nhân thoái hóa hoàng điểm tuổi già. Mục tiêu cụ thể:  Khảo sát đặc điểm dịch tễ của nhóm nghiên cứu.  Khảo sát tần suất của các loại tân mạch trên FA, OCT và OCT-A.  So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu của OCT-A so với phƣơng pháp FA trong phát hiện tân mạch.

CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cƣơng về võng mạc Võng mạc là lớp trong cùng của nhãn cầu, trải dài từ miệng thắt tới gai thị và bám chắc nhất ở 2 điểm này, nó đƣợc chia làm 10 lớp rõ rệt theo thứ tự từ ngoài vào trong gồm: lớp biểu mô sắc tố, lớp tế bào nón và que, màng ngăn ngoài, lớp nhân ngoài, lớp rối ngoài, lớp nhân trong, lớp rối trong, lớp tế bào hạch, lớp sợi thần kinh, màng ngăn trong [5].1 Các lớp của võng mạc “ Nguồn: Henry Gray and Waren Harmon Lewis, 1918, Fig.2 Giải phẫu học vùng hoàng điểm trên hình chụp võng mạc (trái) và chụp mạch huỳnh quang (phải) (vòng tròn vàng: hố trung tâm, vòng tròn đỏ: vùng vô mạch, vòng tròn xanh: lõm trung tâm) “ Nguồn: Jack Kanski and Brack Bowling, 2016, Fig. Hàng rào máu võng mạc (HRMVM) là hàng rào chọn lọc đóng vai trò trong sự trao đổi chất giữa mô võng mạc và các mạch máu võng mạc. HRMVM gồm HRMVM trong và HRMVM ngoài. HRMVM trong tạo nên bởi nội mô các mao mạch võng mạc.

HRMVM ngoài chủ yếu tạo nên từ biểu mô sắc tố. Đặc điểm của biểu mô sắc tố (BMST) võng mạc Cấu tạo của BMST gồm một lớp tế bào đơn hình lục giác. Đỉnh các tế bào này có nhung mao bao phần ngoài của tế bào cảm thụ, đáy thì tiếp xúc với màng Bruch. Ở vùng cực sau BMST cao hơn, dày đặc và chứa nhiều sắc tố hơn ở những vùng khác của võng mạc.

Chức năng chính của BMST: - Tạo nên HRMVM ngoài để ngăn dịch dò vào khoang dƣới võng mạc. - Thực bào đoạn ngoài bị suy biến của tế bào sắc tố. - Dự trữ, chuyển hóa và vận chuyển vitamin A. - Nhƣ một hàng rào trao đổi chất.

- Giúp hấp thụ ánh sáng đi lệch nhờ vào sắc tố trong tế bào. Màng Bruch là một phần của hắc mạc, ngăn cách mạch máu hắc mạc với BMST. Màng Bruch cùng với BMST tạo nên hàng rào vận chuyển các chất thải ra ngoài võng mạc.2 Bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già 1.1 Giới thiệu chung Thoái hóa hoàng điểm tuổi già là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực ở ngƣời trên 50 tuổi. Bệnh tiến triển gây phá hủy vùng hoàng điểm, gây mất thị lực trung tâm và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chất lƣợng sống.

Bệnh có thể xảy ra ở cả 2 mắt nhƣng mức độ tổn thƣơng không giống nhau.2 Dịch tễ học. Ở Mỹ, THHĐTG chịu trách nhiệm cho khoảng 54% trƣờng hợp mất thị lực nghiêm trọng (thị lực đã điều chỉnh nhỏ hơn 1/10) ở ngƣời da trắng. Tỉ lệ bệnh tăng theo tuổi và hiếm xảy ra ở ngƣời dƣới 50 tuổi [33]. Ở Anh, thị lực giảm (tổng thị lực 2 mắt nhỏ hơn 6/18) do THHĐTG khoảng 4% ngƣời trên 45 tuổi và 14% ngƣời trên 90 tuổi [33].

Ở Ấn Độ, tỉ lệ hiện mắc của THHĐTG khoảng 1. Theo Friedman (2004) ƣớc chừng hơn 7 triệu ngƣời có drusen > 127 µm. Tỉ lệ hiện mắc là 15 triệu ngƣời, trong đó THHĐTG thể khô chiếm 13,5%. Tỉ lệ mới mắc là 2,5 triệu ngƣời mỗi năm, trong đó THHĐTG thể khô khoảng 1,8 triệu ngƣời [22].

Tuổi là một yếu tố nguy cơ chính trong THHĐTG. Tỉ lệ THHĐTG gia tăng theo tuổi [22], [34]. Theo Gupta và cộng sự tỉ lệ THHĐTG muộn khoảng 1.4% tại miền Bắc Ấn Độ trong đó nhóm tuổi 50-59 chiếm 0. Theo nghiên cứu của Đỗ Nhƣ Hơn và cộng sự tỉ lệ THHĐTG ở ngƣời trên 80 tuổi là 83.3%, ngƣời từ 70-79 là 61.

Tỉ lệ THHĐTG tân mạch ở ngƣời trên 75 tuổi là 32.4%, ngƣời từ 50-64 tuổi khoảng 13. Hút thuốc lá đƣợc cho là yếu tố nguy cơ của THHĐTG [29] và có liên quan chặt chẽ với THHĐTG [17]. Có nghiên cứu chỉ ra hút thuốc lá và chủng tộc da trắng là yếu tố nguy cơ cho sự xuất hiện của drusen lớn (> 125 µm) và thay đổi sắc tố ở trung tâm 1500 µm vùng hoàng điểm nhƣng ngoài vùng này thì yếu tố da trắng không có khác biệt [11]. Yếu tố gia đình cũng là một yếu tố quan trọng.

Nguy cơ mắc THHĐTG tăng gấp 3 lần nếu thế hệ đầu tiên bị THHĐTG. Thống kê cho thấy các gen Apol, ABCA4, CFH, CFB làm tăng nguy cơ mắc THHĐTG [2]. Tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch chƣa đƣợc thống nhất rõ ràng. Những chất chống oxi hóa có vai trò bảo vệ, trong khi đó phẫu thuật đục thủy tinh thể, tiếp xúc với ánh cƣờng độ ánh sáng cao đƣợc nghi ngờ tăng tỉ lệ THHĐTG nhƣng chƣa có bằng chứng chắc chắn [33].3 Biểu hiện lâm sàng Cơ năng: thƣờng khởi phát ở tuổi trên 60 với biểu hiện 2 mắt nhƣng không tƣơng xứng gồm những triệu chứng nhìn mờ dần, biến dạng hình, ám điểm trung tâm, khó khăn khi đọc, rối loạn sắc giác.

Thực thể: drusen, thay đổi sắc tố, màng TMHM, teo võng mạc dạng bản đồ, bong biểu mô sắc tố, sẹo dạng đĩa, … Drusen: là dấu hiệu sớm nhất nhận biết THHĐTG, biểu hiện khi soi đáy mắt là những chấm màu vàng, có kích thƣớc, số lƣợng và hình dạng khác nhau. Nó đƣợc chia làm drusen nhỏ (cứng), trung bình và lớn (mềm) tùy vào kích thƣớc. Sự hiện diện của drusen lớn ở 2 mắt có nguy cơ tiến triển đến THHĐTG muộn là khoảng 13% trong 5 năm [33]. Thay đổi sắc tố: có thể tăng hoặc giảm sắc tố mà không do những nguyên nhân khác.

THHĐTG thể khô: chiếm khoảng 90% trƣờng hợp THHĐTG, là hậu quả teo từ từ BMST. Soi đáy mắt thấy vùng teo BMST hình vòng giới hạn rõ kèm mất mao quản hắc mạc. Giai đoạn sau mạch máu hắc mạc có thể thấy rõ hơn ở vùng bị teo, drusen biến mất. Teo biểu mô sắc tố có thể xảy ra ở một hoặc 2 mắt.3 Teo võng mạc dạng bản đồ và thay đổi sắc tố ở THHĐTG thể khô “ Nguồn: Jack Kanski and Brack Bowling, 2016, Fig.40 [33]” THHĐTG thể ƣớt: chiếm tỉ lệ nhỏ nhƣng tiến triển nhanh gây mất thị lực nghiêm trọng.

Ở giai đoạn này có thể biểu hiện đơn độc hoặc kết hợp với thể khô, biểu hiện đặc trƣng là bong biểu mô sắc tố và TMHM có thể kèm theo rách biểu mô sắc tố, tăng sinh mạch máu võng mạc. Tân mạch hắc mạc: có thể xem nhƣ là một biến chứng đe dọa thị lực nghiêm trọng của những bệnh nhân bị bệnh hắc võng mạc [55]. Trong THHĐTG thể ƣớt, những chất tăng sinh mạch đƣợc giải phóng tạo nên những mạch máu mới từ hắc mạc (gọi là TMHM) xuyên qua màng Bruch đi vào khoảng dƣới biểu mô sắc tố và sau đó vào khoang dƣới võng mạc. Trên lâm sàng đôi khi biểu hiện là tổn thƣơng gồ nhẹ dƣới võng mạc có màu xanh xám hay hồng vàng với kích thƣớc khác nhau.

TMHM gồm TMHM thể ẩn (tân mạch dƣới BMST), TMHM cổ điển (tân mạch trên BMST trong khoảng dƣới võng mạc) [57].4 TMHM thể ẩn (trái) và TMHM cổ điển (phải) “ Nguồn: Nagahisa Yoshiura and Masanori Hangai, 2016, Fig.5 Bong biểu mô sắc tố “ Nguồn: Jack Kanski and Brack Bowling, 2016, Fig.41 [33]” Tăng sinh mạch máu võng mạc (RAP) là một dạng biểu hiện của THHĐTG thể ƣớt, nó gồm búi tân mạch xuất phát đầu tiên tại võng mạc. Qúa trình tiến triển có thể bắt đầu từ đám rối mao mạch võng mạc sâu hoặc hắc. mạc sau đó hình thành mạch máu thông võng mạc- hắc mạc (retinal-choroidal anastomosis).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ