Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thị trường lưỡng diện và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường lưỡng diện đối với dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Chương 3: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu về thị trường lưỡng diện đối với thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
Chương 5: Đề xuất và khuyến nghị nhằm góp phần phát triển thị trường lưỡng diện đối với dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE THỊ TRƯỜNG LƯỠNG DIỆN VÀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHONG DUNG TIEN MAT 1. Tổng quan các nghiên cứu về thị trường lưỡng diện 1. Tài liệu nước ngoài 1.1 Tổng quan các nghiên cứu làm rõ nội hàm thị trường lưỡng diện Cho đến những năm đầu của thế kỷ 21, khái nệm về thị trường lưỡng diện (TTLD) mới được biết đến và được giới thiệu lần đầu tiên bởi Rochet và Tirole (2003).
Sau đó, các công trình của Parker và Van Alstyne (2005), Amstrong (2006), Fillistruchi (2008),. từng bước góp phần làm sáng tỏ bản chất và tầm quan trọng của thị trường này, cả ở khía cạnh kinh tế và pháp luật. Trong TTLD, tồn tại những tô chức trung gian (hay nền tảng) cung cấp sản phẩm, dịch vụ hoặc sự tiện ích nhằm liên kết hai (hay nhiều) nhóm người sử dụng chúng. Các tai liệu về thị trường lưỡng diện thường sử dụng các khái niệm “người bán-người dùng”, “người bán-khách hàng/người mua” hoặc “những người dùng/ khách hàng”.
Nói một cách dé hiểu, những khái niệm này đề cập đến “người mua” và “người bán” (hoặc những người cung cấp và các khách hàng có nhu cầu, trên mạng). Trong các nghiên cứu của mình, Rochet và Tirole cũng như các tác giả khác thường sử dụng xen kẽ hai khái niệm đó. Auer và Petit (2015) cho rằng có một số lý do giải thích hợp lý cho các tác giả khi sử dụng không rõ ràng các khái niệm “người bán-người dùng” và “những người dùng”. Một là, có một số lượng lớn các thị trường lưỡng diện, người dùng ở một bên giao dịch với nền tảng nên không có giao dịch băng tiền được diễn ra.
Các khoản thanh toán băng hiện vật, miễn phí và trợ cấp phù hợp với sự phân tách rõ ràng giữa người mua và người bán. Một lý do khác đó là ở một số thị trường lưỡng diện nhất định, một số nhóm người dùng trả tiền cho nền tảng trong khi những nhóm khác thì không, vì vậy họ không thể được coi là cùng một “người mua”.Ví dụ, hệ thống thanh toán 10 (Visa, Mastercard.) là hệ thống kết nối hai nhóm khách hàng: chủ thẻ (tức người dùng) va tô chức chấp nhận thẻ (các siêu thị, các cửa hàng tiện lợi- tức người bán) bằng việc cung cấp dịch vụ thanh toán cho cả hai nhóm khách hàng này. Đề thực hiện được một thanh toán, hệ thống thẻ phải kết nối với ngân hàng của chủ thẻ (ngân hàng phát hành) và ngân hàng của tô chức chấp nhận thẻ (ngân hàng thanh toán). Hệ thống thanh toán thực hiện thu phí của hai ngân hàng phát hành và thanh toán khi thực hiện thanh toán cho người tiêu dùng.
Định nghĩa về thị trường lưỡng diện vẫn còn nhiều tranh luận (Rochet và Tirole, 2006, Rysman, 2007) bởi cách định nghĩa hiện tại về các trung gian trong thị trường đó vẫn còn khá mơ hồ, dẫn đến có sự bat đồng trong các tai liệu nghiên cứu. Một trong những nghiên cứu đầu tiên trong việc đề xuất một định hướng rộng hơn là Evans (2003): Các trung gian (hay nền tảng) lưỡng diện điều phối nhu cầu của các nhóm khách hàng khác nhau, những người cần nhau theo một cách nào đó. Tuy nhiên, thiếu sót chính của định nghĩa này là nó quá rộng. Vì đôi khi, không rõ liệu một công ty có phải là trung gian kết nối của thị trường lưỡng diện (trung gian/nén tảng lưỡng diện) hay chỉ don thuần đảm nhận vai trò trung gian như trong thị trường truyền thống.
Hagiu (2007) nói rằng sự khác biệt chính giữa hình thức trung gian của thị trường cô điển - mà thường được gọi là thương nhân và nền tảng lưỡng diện là: các thương nhân thuần túy, bang cách chiếm hữu hàng hóa của người bán, kiểm soát hoàn toàn đối với hàng hóa của họ và bán cho người tiêu dùng. Ngược lại, các trung gian lưỡng điện hoàn toàn để lại quyền kiểm soát đó cho người bán và chỉ cần xác định quyền truy cập của người mua và người bán (hoặc giao dịch) thông qua nền tảng. Hagiu (2007) đã đóng góp lớn vào sự phân biệt nay bằng cách nhấn mạnh sự liên quan của việc chú ý đến các quyền kiểm soát đối với hàng hóa được giao dịch. Cái nhìn sâu sắc này rất cần thiết khi phân loại các doanh nghiệp thành các trung gian (hay nền tang) lưỡng diện vi 11 nó thúc day sự chú ý từ giá cả đối với các quyền kiểm soát.
Cụ thé, tác giả đã đề xuất một định hướng kinh doanh lưỡng diện dựa trên hai đặc điểm: (1) Doanh nghiệp lưỡng diện cho phép tương tác trực tiếp giữa hai hoặc nhiều bên; (2) Mỗi bên liên kết với trung gian (hay nền tảng) nhiều mặt (Muti-sided platform - MSP). Bên cạnh đó, bởi sự tương tác trực tiếp, Hagiu và Wright (2015) hàmý hai bên (ví dụ A và B) đều giữ quyền kiểm soát các điều khoản quan trọng của sự tương tác, trái ngược với việc chỉ bên trung gian lấy quyền kiểm soát. Tương tác trực tiếp giữa hai bên khiến các trung gian lưỡng diện khác các đại lý — trung gian bán hang hoá (dịch vụ) giữa A và B hoặc các công ty sở hữu hay hợp tác trực tiếp (V.I) với một bên và bán hàng hoá (dịch vụ) cho bên B. Các trung gian lưỡng diện cũng khác với một doanh nghiệp mua hàng từ nhà cung cấp đầu vào, qua quá trình sản xuất, bán hàng hoá dịch vụ cho bên B.1 minh họa sự khác biệt này.
Tương tác trực tiếp Liên kết MSP} Lién két ( Dail T=7 B Bóún hang hod ¬—_—“ Bán hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc dịch vụ Sở hữu == (hợp tác trực tiếp) “—~ i" A ies Vv. B ee Bán hang hod hoặc dịch vụ i NCC đầu ——. A m—— B ` vào /Cung cấp đầu Bán hàng hoá `.” Ướo hoặc dịch vụ Hình 1. Sự khác nhau giữa MSP và các mô hình kinh doanh khác Nguôn: Hagiu và Wright (2015) 12 Mặc dù vậy, các phương pháp định nghĩa phổ biến nhất cho đến nay tập trung vào sự hiện diện của các nhóm quan trọng hoặc ảnh hưởng gián tiếp (hiệu ứng mạng lưới) giữa hai hay nhiều nhóm khách hàng tham gia vào thị trường (Caillaud và Jullien, 2003, Armstrong, 2006).
Một cách tổng quát nhất, thị trường lưỡng diện là nơi tồn tại trung gian kết nối hai (hay nhiều) nhóm khách hàng băng cách cung cấp một loại hàng hóa, dịch vụ riêng biệt cho mỗi nhóm, từ đó thu lợi nhuận thông qua kết nối này (Rochet va Tirole, 2003). Trong mô hình kinh doanh lưỡng diện có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể: một doanh nghiệp trung gian tiến hành cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các nhóm khách hàng và ít nhất hai nhóm khách hàng có nhu cầu giao dịch với nhau sử dụng hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Trong đó, doanh nghiệp trung gian nói trên được gọi là doanh nghiệp lưỡng diện. Cần phân biệt giữa “doanh nghiệp lưỡng diện” và “thị trường” là nơi các doanh nghiệp lưỡng diện tiến hành hoạt động.
Nhìn chung, đại đa số các học giả đều thừa nhận rằng chưa có một định nghĩa chính xác nào được chấp nhận rộng rãi về TTLD. Nhưng nhìn chung, TTLD gồm ba đặc trưng chính: * Một nền tảng cung cấp các dịch vụ riêng biệt cho hai phía của thị trường. ¢ Người dùng có lợi từ sự tham gia của người dùng ở phía bên kia của thị trường. + Nền tảng quyết định giá trên cả hai mặt của thị trường.
Nghiên cứu hoạt động trên thị trường lưỡng điện Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu về thị trường lưỡng diện đã xem xét van đề gia nhập cũng như các chiến lược mở rộng dé đạt được tiềm năng thị trường cần thiết. Staykova và Damsgaard (2015) tiến hành nghiên cứu đối với thanh toán di động (Mobile payment) và phát hiện ra rằng cả chiến lược gia nhập và mở rộng đều đóng góp vào thành công của nền tảng. Mặc dù nhà cung cấp dich vụ thanh toán di động tiên phong có thé đạt 13 được lợi thế của người di trước, nhưng lợi thế cạnh tranh đã đạt được trước đó có thé bị vô hiệu hóa bởi những người “theo dõi” nhanh nếu việc mở rộng của người đi đầu tiên không được thực hiện trong khoảng thời gian tối ưu. Reuver và Ondrus (2017) cũng đã áp dụng khuôn khô phân tích thị trường lưỡng diện để giải thích tại sao các nhà khai thác mạng di động có thể sẽ thua trận trong hệ sinh thái thanh toán di động.
Họ phát hiện ra rằng ngoai sự vượt trội về công nghệ, hiệu ứng mạng lưới và sự tin tưởng vào các nhà cung cấp nên tảng có thê đóng những vai trò quan trọng. Còn White và Weyl (2012) thì cho rằng chủ sở hữu công nghệ tốt hơn phải có hai điều kiện tiên quyết đề thay thế một người đương nhiệm va để tránh thất bại trong viéc ra mat. Dau tién, nén tang phải được vốn hóa tốt dé có thé trợ cấp cho người tiêu dùng. Thứ hai, nó phải đủ tinh vi dé quan lý sự phối hợp/tương tác của người tiêu dùng ở hai phía của thị trường.
Ngoài ra, Belleflamme và Toulemonde (2004) nghiên cứu các ưu đãi của một công ty độc lập dé ra mat dịch vụ nền tảng mới trong hai kịch bản: Khi không có dịch vụ trước đó và khi có một công ty đương nhiệm đang cung cấp dịch vụ. Trong kịch bản đầu tiên, người bán và người tiêu dùng phải giao dịch trên nền tảng này vì không có nơi nào khác để giao dịch. Do đó, nền tảng có thé hưởng lợi từ thing dư của cả người bán và người mua. Vì vậy, trong trường hợp này, bắt đầu một thị trường mới luôn là một chiến lược chuyên nghiệp.
Trong kịch bản thứ hai, nền tảng phải trợ cấp hoặc giảm giá cho khách hàng ở một bên của thị trường dé thu hút họ và, bằng các mạng lưới, thu hút các khách hàng ở phía bên kia. Các nền tang hay trung gian lưỡng điện đều có mô hình kinh doanh cụ thể của nó. Rochet và Tirole (2003) chỉ ra rằng các trung gian này nên chú ý đến mô hình kinh doanh của chính nó, tức là làm thế nào để phối hợp tất cả các bên dé tạo ra lợi nhuận tong thé.