mở đầu kết thúc, v. Còn chính Bakhtin, khi nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết Dostoievsky trong công trình Những vấn đề thi pháp Dostoievsky, đã lần lượt khảo sát các yếu tố nhân vật, lập trường và tư 16 tưởng của tác giả, kết cấu - cốt truyện, lời văn (gồm lời trần thuật, lời độc thoại, lời đối thoại). Như thế, thi pháp tiểu thuyết bao gồm các yếu tố cấu thành tác phẩm - thủ pháp nghệ thuật và phương thức vận dụng các thủ pháp ấy để kiến tạo nên thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết. Ở mỗi thời đại, trong mỗi nền văn hóa, dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như tư tưởng triết học, mỹ học, quan niệm về văn chương, quan niệm về sáng tác và tiếp nhận văn chương hay các yếu tố lịch sử, xã hội, chính trị, tôn giáo,.), quan niệm về tiểu thuyết rất khác nhau và thi pháp tiểu thuyết cũng vì thế mà vô cùng linh hoạt.
Hành trình của tiểu thuyết đi từ những mầm mống đầu tiên trong văn học cổ đại Hy - La, đến tiểu thuyết tôn giáo và tiểu thuyết hiệp sĩ thời Trung cổ qua tiểu thuyết cận hiện đại, tiểu thuyết mới, tiểu thuyết hiện đại ở phương Tây; hay tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết chương hồi rồi những thể loại giao thoa với tiểu thuyết phương Tây hiện đại đầu thế kỷ XX ở phương Đông; và từ thế kỷ XX trở đi là những hình thức sáng tạo tiểu thuyết có nhiều nét tương đồng ở cả phương Tây và phương Đông, bởi ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa. Tuy nhiên, có thể tạm thời phân biệt tiểu thuyết từ thế kỷ XX (tương đương với thời kỳ phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện đại trong văn học) trở về trước với các tiểu thuyết sau này (tương đương với giai đoạn xuất hiện các trào lưu tư tưởng triết - mỹ đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện đại như hậu hiện đại, hậu cấu trúc,.) trước hết ở sự tan rã chính bản thân tiểu thuyết: Tiểu thuyết - thoạt nhìn - không còn tồn tại với tư cách một chỉnh thể. Cụ thể, từ thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại trở về trước - dù với vấn đề thần linh hay con người của Hy - La cổ điển, các câu chuyện tôn giáo và hiệp sĩ của thời Trung đại, chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng, vấn đề thống nhất và quyền lực trong giai đoạn chủ nghĩa cổ điển hay chuyện cái tôi cá nhân và khát vọng vượt thoát của chủ nghĩa lãng mạn, những bức tranh xã hội của chủ nghĩa hiện thực,. thì thi pháp tiểu thuyết tất cả các giai đoạn đều gặp nhau ở sự tập trung thể hiện một (hoặc một số) chủ đề nhất định.
(Chủ đề, theo Hà Minh Đức và các tác giả khác (2012), được định nghĩa như là “vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ hiện thực mà tác phẩm thể hiện” (tr. Điều này không mâu thuẫn với tính đa nghĩa của ngôn ngữ văn chương hay tính đa thanh trong tiểu thuyết hiện đại - mà tiêu biểu là tiểu thuyết Dostoievsky, như 17 Bakhtin đã chỉ ra. Trong Tội ác và trừng phạt, những giọng đối thoại trong nội tâm nhân vật Raskolnikov tập trung khắc họa quan niệm siêu nhân của nhân vật này; nhân vật “phân hóa” thành những nhân vật phản biện giả định để tự bảo vệ triết lý sống của mình qua chính những cuộc tranh luận, khi soi chiếu triết lý sống ấy từ nhiều góc nhìn khác nhau. Tương tự, tiểu thuyết với cấu trúc “truyện lồng truyện”, tiểu thuyết có kết cấu truyện khung, tiểu thuyết thư tín,.
đều tập trung phản chiếu một phạm vi hiện thực nhất định (dù mức độ phản chiếu là khác nhau - có thể là mô phỏng, tái hiện hoặc tái tạo hiện thực). Linda Hutcheon (2004) trong công trình Một thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại - Lịch sử, Lý thuyết, Tiểu thuyết lập luận rằng, có thể Charles Dickens nhìn London thế kỷ 19 cũng phi lý và kinh khủng như chúng ta nhìn xã hội hiện đại (và hiện tại), nhưng nhà văn đã vận dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực để tổ chức lại thế giới phi lý và kinh khủng ông thấy, để viết nên những tác phẩm tồn tại đến ngày nay (tr. Những nguyên tắc ấy là điều mà những nhà văn sau không còn tin tưởng được nữa. Chủ nghĩa hiện thực thoái trào để bước sang chủ nghĩa hiện đại, rồi từ buổi hoàng hôn của chủ nghĩa hiện đại, đã xuất hiện ngày càng phổ biến những “cái chết” - của nhà văn, của nhân vật - và những cuộc phân rã của nhiều yếu tố khác liên quan như chi tiết, tư tưởng.
Những cuộc phân rã này tạo nền tảng cho những tiểu thuyết vượt khỏi khung thể loại cổ điển của nó. Bởi thể loại tiểu thuyết luôn luôn chưa hoàn kết, luôn luôn chấp nhận sự phát triển, dung hợp vào nó những thể loại khác nhau - cả nghệ thuật lẫn phi nghệ thuật, hệ thống nguyên tắc sáng tác tiểu thuyết tất yếu chấp nhận những thành tố mới. Xác định và nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết bởi thế luôn phải sẵn sàng với những thành tố mới này, bởi chúng là biểu hiện rõ nhất cho sức sống và tính chất chưa hoàn kết đặc trưng thể loại. Vấn đề thi pháp trong chủ nghĩa hậu hiện đại 1.
Chủ nghĩa hậu hiện đại - sự ra đời và những cảm thức đặc trưng Chủ nghĩa hậu hiện đại là một hệ tư tưởng xuất hiện trong đời sống tinh thần thế giới từ những năm 60 và bắt đầu được giới nghiên cứu tiếp nhận, khai triển từ giữa thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay. Như tất cả những tư tưởng triết học khác, 18 chủ nghĩa hậu hiện đại cũng ra đời trên một nền tảng lịch sử - xã hội đặc thù. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc (năm 1945), ngược với niềm mong mỏi của đa số nhân loại, đã không có sự ổn định nào trên toàn thế giới. Chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, tình hình phân cực, nỗi ám ảnh vũ khí hạt nhân với những đống hoang tàn mang tên Hiroshima và Nagasaki, chiến tranh cục bộ xảy ra ở nhiều nơi - Triều Tiên, Việt Nam, Algeria,.
dưới sự ủng hộ ngấm ngầm của các cường quốc đã khiến con người thời đại này phải sống trong nỗi bất an triền miên. Đến khi Liên Xô sụp đổ, trật tự hai cực Yalta bị phá vỡ, kinh tế trở thành mối bận tâm hàng đầu của mỗi quốc gia và cùng với đó là sự bùng nổ của tâm lý thượng tôn vật chất, thành tựu khoa học kỹ thuật không tưởng, sản xuất hàng hóa phát triển chóng mặt, giá trị tiêu dùng trở thành thước đo vạn năng. Con người vừa tạm thoát khỏi ám ảnh chiến tranh lại phải đối mặt với hàng loạt những câu hỏi về chuẩn mực đạo đức, về sức mạnh chi phối của khoa học kỹ thuật và kinh tế thị trường, về số phận của con người giữa vũ trụ,. Tất cả những điều đó đã khiến hơn nửa cuối thế kỷ XX (và ít nhiều là cả những năm đầu của thế kỷ XXI) đầy ắp những bất an.
Bất an hơn bao giờ hết. Hỗn loạn, hoài nghi và âu lo cùng cực. Con người không còn Chúa để tựa vào, cũng không thể nương tựa vào năng lực tư duy chính mình như họ đã từng trong thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại. Cuộc đổ bộ của những thiết bị thông minh, những phương tiện thông tin đại chúng hay mạng lưới internet rộng khắp,.
khiến cuộc sống ngày càng tiện nghi nhưng đồng thời cũng khiến con người thấm thía hơn về tình trạng nhỏ bé, bất khả của mình giữa thế giới. Tồn tại xã hội thay đổi, ý thức xã hội tất yếu cũng đổi thay. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, bắt đầu xuất hiện một trào lưu triết - mỹ mới thay dần cho chủ nghĩa hiện đại đang tồn tại lúc bấy giờ. Đó là chủ nghĩa hậu hiện đại.
Thuật ngữ hậu hiện đại lần đầu được sử dụng khoảng những năm 1870. Trong giai đoạn đó, John Watkins Chapman đề xuất một “phong cách hậu hiện đại trong hội họa” để chỉ những tác phẩm mới mẻ hơn chủ nghĩa ấn tượng Pháp (French Impressionism) - trào lưu hội họa mới nhất đương thời. Thompson viết một bài phê bình tôn giáo, đăng trên tạp chí triết học The Hibbert Journal, sử dụng khái niệm “hậu hiện đại” để miêu tả những đổi thay trong quan điểm và đức tin để thoát khỏi chủ nghĩa hiện đại (Attali, 2017, tr. Rồi thuật ngữ này tiếp tục 19 được sử dụng trong các lĩnh vực âm nhạc, văn chương, kiến trúc,.
để chỉ chung tinh thần phản kháng những chuẩn mực đương thời trong các lĩnh vực ấy. Những đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương phải kể đến Jean-François Lyotard và Jacques Derrida, mà nhất là Lyotard với việc đưa “hậu hiện đại” vào cuộc tranh luận triết học, qua một tác phẩm đã trở thành “kinh điển” của hậu hiện đại: Hoàn cảnh hậu hiện đại (La condition postmoderne, 1979), nhấn mạnh tính chất phi trung tâm, dị đồng, “bất đồng thuận” và hoài nghi các đại tự sự. Đến nay, chủ nghĩa hậu hiện đại đã được nhìn nhận như là một trào lưu văn hóa với những cảm thức và biểu hiện đặc trưng, phủ nhận nhưng không triệt tiêu những trào lưu trước đó. Từ những năm 2000 đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp mang tính chất dẫn luận về chủ nghĩa hậu hiện đại như Routledge - Dẫn luận về chủ nghĩa hậu hiện đại (The Routledge Companion to Postmodernism, Stuart Sim, 2001), Chủ nghĩa hậu hiện đại một dẫn nhập ngắn (Postmodernism A Very Short Introduction, Christopher Butler, 2002) hay Cambridge - Dẫn luận về chủ nghĩa hậu hiện đại (The Cambridge Companion to Postmodernism, Steven Connor, 2004).
Như thế, đi qua những cuộc tranh luận, những hoài nghi và cả rất nhiều phủ nhận, chủ nghĩa hậu hiện đại đến nay đã khẳng định được sự hiện hữu của mình trong lịch sử tư tưởng thế giới. Nói đến đặc trưng cơ bản của cảm thức hậu hiện đại, đầu tiên phải nhắc đến tinh thần phản kháng lại những chuẩn mực đương thời - tức chủ nghĩa hiện đại, thông qua thái độ hoài nghi những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa ấy. Đây là cơ sở hình thành tinh thần hậu hiện đại, là một trong những đặc trưng cơ bản nhất để xác định sự tồn tại của tư tưởng hậu hiện đại trong một lĩnh vực hay một tác phẩm văn hóa - nghệ thuật, và cũng là cơ sở phân biệt tư tưởng hậu hiện đại với tư tưởng hiện đại.