Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN TREO 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của án treo và thi hành án treo 1. Khái niệm và đặc điềm của án treo, thi hành án treo Khái niệm, đặc điểm của án treo Án treo là chế định hình sự ra đời từ rất sớm, trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu dài của khoa học hình sự Việt Nam, từ Điều 10 trong sắc lệnh số 21/SL ngày 14/12/1946 về tổ chức Tòa án quân sự cho tới nay, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng án treo chưa bao giờ được coi là hình phạt trong hệ thống hình phạt của nước ta. Theo cuốn từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê: "Án treo là án tù không phải thi hành ngay, nhưng sẽ thi hành nếu trong thời trang quy định người bị kết án lại phạm tội và bị xử án lần nữa" [25, tr.
Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội: " …Án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện…thể hiện tính nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội trong thời gian thử thách thì buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên" [12, tr. Theo tinh thần của Bộ luật Hình sự, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn thi hành, thì án treo không phải là một loại hình phạt mà là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, hình phạt đối với người vi phạm pháp luật ở mức độ ít nghiêm trọng, khi bị xử phạt tù không quá ba năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội mà vẫn có thể cải tạo được, tòa án có thể miễn chấp hành tại trại giam mà để cho người bị kết án tự cải tạo dưới sự giám sát, quản lý giáo dục của chính quyền địa phương tại nơi cư trú. 7 Luan van Khoản 1 Điều 65 BLHS năm 2015 quy định: "Khi xử phạt tù không quá ba năm căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đến năm năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự" [29]. Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo: "Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần phải bắt họ chấp hành hình phạt tù”.
Người bị phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện: - Bị xử phạt không quá 03 năm [Điều 2, 15]. Người bị áp dụng hình phạt tù không quá 03 năm, không phân biệt tội gì thì có thể được xem xét cho hưởng án treo; trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt không quá 03 năm tù thì cũng có thể được hưởng án treo. Khi Tòa án tuyên mức hình phạt tù thì phải dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam để áp dụng hình phạt cho từng trường hợp cụ thể, tránh những trường hợp vì có ý định từ trước là sẽ cho người bị kết án hưởng án treo nên Tòa án tuyên mức án thấp hơn thời hạn 03 năm tù giam để cho người đó được hưởng án treo, hoặc đáng lẽ bị cáo được hưởng án treo nhưng Tòa án có ý định từ trước là không cho hưởng án treo nên Tòa án đã tuyên mức án cao hơn 03 năm để cho bị cáo không được hưởng án treo; - Có nhân thân tốt [Điều 2, 15]. Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
Đối với người đã bị kết án thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý kỉ luật mà thời gian 8 Luan van được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỉ luật tính đến ngày phạm tội đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì có thể cho hưởng án treo. Đây cũng là đặc điểm có liên quan đến mục đích của hình phạt, vì mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người bị kết án, giáo dục các thành viên khác trong xã hội tuân thủ pháp luật, cũng như hỗ trợ cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả; - Có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS và không có tình tiết tăng nặng. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 [Điều 2, 15]; - Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ xác định theo quy định của Luật cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền [Điều 2, 15]; - Xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội [Điều 2, 15]. Có thể rút ra kết luận:"Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định nhằm khuyến khích họ cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cảnh cáo họ nếu phạm tội mới trong 9 Luan van thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt tù được hưởng án treo từ bản án trước đó". Từ khái niệm trên về án treo, có thể nhận thấy đặc điểm của án treo như sau: Thứ nhất, án treo được coi không phải là hình phạt tù, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù trong các trại tạm giam khi bảo đảm các điều kiện được pháp luật quy định. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định bảy hình phạt chính tại các Điều 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trong đó có hình phạt tù được quy định tại Điều 38 BLHS năm 2015, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù trong các trại giam khi người phạm tội có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành cụ thể tại Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 02/2018/ NQ – HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo; Thứ hai, Người được hưởng án treo sẽ chịu thời gian thử thách từ một đến năm năm, thời gian thử thách phải gấp đôi thời hạn phạt tù nhưng không quá 5 năm [Điều 4, 12].
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo: trong trường hợp người được hưởn án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của BLHS; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Chế định án treo là một chế định pháp luật tiến bộ khi BLHS năm 2015 tiếp tục duy trì điều luật quy định về án treo, đồng thời hạn chế áp dụng hình phạt tù, bổ sung quy định áp dụng hình phạt tiền đối với cả những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng đối với các tội phạm thuộc Chương các tội phạm về quản lý kinh tế. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án treo Theo từ điển Tiếng Việt, thi hành là "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [1, tr. 10 Luan van Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án, tác giả tổng kết ở ba quan điểm cơ bản như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thi hành án là một trong các giai đoạn của tố tụng vì có xét xử thì phải có thi hành án cho nên thi hành án dựa trên cơ sở của công tác xét xử.
Bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tại phiên tòa là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Vì vậy không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không thể có kết quả của hoạt động thi hành án.