CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về thẻ điểm cân bằng Qua quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, các website cho thấy trong thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề thẻ điểm cân bằng sau đây: Trần Quốc Việt, luận án tiến sỹ “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận mô hình thẻ điểm cân bằng trong quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp Việt Nam”, 2013, Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề tài đề cập đến các yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận của thẻ điểm cân bằng (BSC) trong quản trị chiến lược trên cơ sở khảo sát 206 doanh nghiệp Việt Nam, từ đó rút ra sự thay đổi chuyển từ mức độ chấp nhận BSC sang mức độ ứng dụng BSC cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và đề xuất một số gợi ý để ứng dụng hiệu quả mô hình BSC tại Việt Nam. Nghiên cứu đã phát hiện thang đo mới cho biến phụ thuộc “mức độ chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược”: được đo bởi ba khoản mục theo 3 cấp độ sử dụng BSC trong doanh nghiệp: (1) ứng dụng các ý tưởng của BSC, (2) ứng dụng rộng rãi các chức năng của BSC, và (3) ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả sử dụng BSC.
Và khẳng định được sáu yếu tố tác động đến mức độ chấp nhận BSC trong quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam, cụ thể : (1) mức độ tham gia của lãnh đạo cấp cao, (2) mức độ tập trung hóa,(3) quyền lực của bộ phận tài chính, (4) sự chuẩn hóa, (5) truyền thông nội bộ và (6) sự năng động của sản thị trường - sản phẩm. Mức độ tác của mỗi yếu tố là khác nhau và đã được xác định cụ thể. Trong đó, có 2 yếu tố có tác động tiêu cực (ngược chiều) là tập trung hóa và hệ thống hóa, 4 yếu tố còn lại tác động tích cực (thuận chiều). Tường Tuấn Linh, luận văn thạc sỹ “Xây dựng hệ thống Thẻ điểm cân bằng tại công ty cho thuê tài chính quốc tế Chailease”, 2013, Đại học Kinh tế TPHCM.
Đề tài này hệ thống hoá được lý thuyết, nêu ra thực trạng của một công ty 7 cụ thể là công ty cho thuê tài chính quốc tế Chailease. Thực hiện phân tích và đánh giá thực trạng mô hình quản lý của công ty, từ đó đưa ra các đúc kết hoàn thiện. Từ đó hoàn thiện bằng cách xây dựng thẻ điểm cân bằng cho công ty Chailease với đi sâu vào xây dựng chi tiết cho các phòng ban chức năng, tính ứng dụng khá thiết thực. Sau đó tổng hợp và hoàn thiện hệ thống Thẻ điểm mà tác giả đã xây dựng cho công ty, từ đó có các giải pháp để thực hiện hệ thống quản lý mới này.
Đề tài này đã xây dựng Thẻ điểm cân bằng phân tầng xuống các phòng ban chức năng của công ty. Tuy nhiên đề tài này không nhắc đến việc xây dựng Thẻ điểm dựa vào hệ thống có sẵn ở công ty mẹ, phân rã xuống cho công ty con, chi nhánh đơn vị thực hiện chiến lược của toàn hệ thống. Hà Thị Thanh, luận văn thạc sỹ “Ứng dụng thẻ điểm cân bằng tại công ty TNHH Pentax VN”, 2012, Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề tài này xây dựng thẻ điểm cân bằng áp dụng cho một doanh nghiệp cụ thể, doanh nghiệp Pentax VN.
Thẻ điểm cân bằng được đưa vào ứng dụng trong doanh nghiệp Pentax. Từ đó rút ra các điều kiện thuận lợi, khó khăn của việc ứng dụng BSC. Đồng thời đưa các giải pháp để hoàn thiện BSC tại công ty này và các bổ sung các điều kiện còn thiếu để có thể áp dụng thành công BSC vào đơn vị. Nguyễn Thảo Trang, luận văn thạc sỹ “Ứng dụng thẻ điểm cân bằng để quản lý hiệu suất công việc tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu”, 2011, Đại học Kinh tế TPHCM.
Đề tài xây dựng thẻ điểm cân bằng và ứng dụng thẻ điểm cân bằng vào quản lý hiệu suất công việc cho nhân viên tại ACB sẽ giúp cho ACB trong việc vượt qua ba vấn đề cơ bản: đo lường hiệu suất thực tế, sự gia tăng tài sản vô hình và thực thi chiến lược thành công trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Từ đó là tiền đề cho việc gia tăng số lượng doanh nghiệp Việt Nam triển khai áp dụng thẻ điểm cân bằng. Đề tài này hướng tới việc ứng dụng thẻ điểm cân bằng tại ACB nhưng chỉ nghiên cứu ở khía cạnh quản lý hiệu suất công việc của nhân viên trong ngân hàng. Việc triển khai ứng dụng BSC vào việc quản lý hiệu suất tại ACB là cơ sở để xây dựng chế độ khen thưởng, hệ thống đãi ngộ, tạo được sự công bằng là và động lực cho tất cả nhân viên ACB không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ vì mục tiêu chung của tổ chức.
Đề tài không hướng vào các chung 8 tổng thể của bốn viễn cảnh của thẻ điểm cân bằng, không ứng dụng toàn diện vào việc đánh giá thực hiện chiến lược mà chỉ hướng vào một trong ba vai trò của thẻ điểm cân bằng. Việc đo lường hiệu suất chung cho toàn hệ thống ngân hàng ACB. Đoàn Ngọc Hà, luận văn thạc sỹ “Ứng dụng phương pháp thẻ điểm cân bằng (BSC) và chỉ số đo lường hiệu suất (KPI) vào đánh giá nhân viên tại tổng công ty công nghiệp - in - bao bì Liksin”, 2010, Đại học Kinh tế TP. Đề tài này đã phân tích phương pháp đánh giá nhân viên theo BSC/KPI giúp chuyển tải sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu chiến lược của công ty thành các chỉ số đo lường của các khía cạnh tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi – phát triển.
Các chỉ số đó có sự liên kết từ cấp công ty đến phòng ban, tổ nhóm và cá nhân. Việc đánh giá mang tính định lượng cao và có sự liên kết giữa công việc, nhân viên và chiến lược công ty. Luận văn này đã đề xuất quy trình áp dụng BSC/KPI vào đánh giá nhân viên, triển khai thực hiện các bước theo quy trình. Kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng tại phòng ban trực thuộc Tổng công ty Liksin, công ty con, còn có thể tham khảo để cải tiến việc đánh giá nhân viên ở các tổ chức khác.
Đây cũng là đề tài nghiên cứu về vai trò đo lường của thẻ điểm cân bằng, đánh giá hiệu suất của nhân viên trong từng phòng ban của doanh nghiệp. Đề tài thực hiện xây dựng và ứng dụng BSC vào công ty Liksin và thực hiện chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng BSC cũng như những nhân tố và điều kiện mà công ty này có sẵn. Tuy nhiên việc xây dựng và áp dụng BSC/ KPI vào doanh nghiệp này với mục đích để đo lường hiệu suất công việc của nhân viên và đánh giá nhân viên thực hiện công việc của của doanh nghiệp. Các đề tài trên có đề cập tới việc ứng dụng thẻ điểm cân bằng vào quản lý doanh nghiệp và ngân hàng, đồng thời đánh giá tầm ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến sự thành công của việc ứng dụng này.
Tuy nhiên chưa có luận văn nào thực hiện nghiên cứu các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng trong việc xây dựng thẻ điểm cân bằng tại kênh phân phối trực tiếp kinh doanh, đơn vị trực tiếp thực hiện một mảng lớn của hệ thống mục tiêu chiến lược của ngân hàng như Ngân hàng TMCP Á Châu – CN Nghệ An. Hướng nghiên cứu của đề tài Vấn đề về thẻ điểm cân bằng còn là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam nên sự quan tâm của các công trình nghiên cứu còn hạn chế. Luận văn tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này với mục tiêu tìm hiểu sâu hơn các cơ sở nền tảng, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm củng cố thêm các nhân tố và điều hiện để xây dựng áp dụng vào thực tế về trong việc triển khai chiến lược và đánh giá việc thực hiện chiến lược của Ngân hàng TMCP Á Châu – CN Nghệ An. Do thời gian và điều kiện hạn chế nên luận văn chỉ dừng lại việc nghiên cứu nhân tố và điều kiện ảnh hưởng cho việc xây dựng Thẻ điểm cân bằng của cấp đơn vị mà không đi sâu vào việc xây dựng cho từng phòng ban và từng nhân viên.
10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 11 2. Tổng quan về Thẻ cân bằng điểm Balanced Score Card (BSC) 2. Sự ra đời của BSC Dưới sự bảo trợ của Học viện Nolan Norton, David Norton, Rober Kaplan và các cộng sự đã thực hiện các nghiên cứu về “Đo lường hiệu suất hoạt động của tổ chức trong tương lai” năm 1990. Khởi nguồn từ nghiên cứu và triển khai việc đo lường hiệu suất ra các tổ chức, BSC được 2 tác giả công bố trên các bài báo của tờ Harvard Business Review: “Thẻ điểm Cân bằng – những thước đo thúc đẩy hiệu quả hoạt động” năm 1992.
Từ công bố này các tổ chức nhận thấy hệ thống BSC còn hơn là một hệ thống đo lường và bắt đầu đem mô hình này vào áp dụng trong tổ chức của chính mình, nhưng 2 vị cha đẻ của mô hình này nhận thấy trong quá trình áp dụng mô hình này các tố chức đã không kết nối được những thước đo và chiến lược của tổ chức đó, nên bài báo “Áp dụng mô hình Thẻ điểm Cân bằng trong thực tiễn” năm 1993. Từ những kinh nghiệm trong việc tư vấn chiến lược của 2 tác giả đến các tổ chức trong việc vận dụng BSC vào việc thay đổi và thực hiện chiến lược, làm cho các thước đo được liên kết chặt chẽ với nhau từ việc liên kết chiến lược của tổ chức đó, thì bài báo thứ 3 hoàn thiện về BSC được công bố “Sử dụng Thẻ điểm Cân bằng như một hệ thống Quản trị chiến lược” năm 1996. 12 Những nghiên cứu về BSC ra đời trong giai đoạn chuyển hóa giữa cạnh tranh trong thời đại công nghiệp sang cạnh tranh trong thời đại thông tin. Trong thời đại công nghiệp phát triển thì việc đưa các công nghệ mới vào sản xuất và kinh doanh giúp cho các tổ chức có một lợi thế và có hiệu quả trong hoạt động.
Kiểm soát hiệu quả các hoạt động công nghệ mới đó là việc kiểm soát tài chính và vốn hữu hình đã tạo ra giá trị cho các cổ đông.