Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2 : Cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ Chương 3: Phân tích thực trạng về thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ đối với mặt hàng thép inox xuất khẩu sang thị trường Châu Âu của công ty cổ phần phát triển thương mại Bắc Việt. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ đối với mặt hàng thép inox xuất khẩu sang thị trường Châu Âu của công ty cổ phần phát triển thương mại Bắc Việt. SVTH: Trần Duy Khiên 3 Lớp: K47E2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Mai Thanh Huyền CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 2.
Một số lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế 2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến thanh toán quốc tế - Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, nảy sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng có liên hệ ( Bài giảng của Ths.Vũ Anh Tuấn- Đại học thương mại) - Thư tín dụng: là cam kết của một NH ( NH mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng ( người xin mở L/C) về việc trả một số tiền nhất định cho người khác ( người thụ hưởng L/C), hoặc sẽ chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát trong phạm vi số tiền đó, với điều kiện người này xuất trình được BCT phù hợp với quy định của L/C ( Bài giảng của Ths.Vũ Anh Tuấn- Đại học thương mại) - Thanh toán mậu dịch: là thanh toán phát sinh trên cơ sở hàng hóa, dịch vụ thương mại kết hợp với xuất nhập khẩu dựa trên giá cả quốc tế. Trong thanh toán mậu dịch các bên liên quan sẽ bị ràng buộc với nhau theo các hợp đồng đã ký kết hoặc cam kết thương mại. Nếu hai bên không ký hợp đồng chỉ có đặt đơn hàng thì sẽ căn cứ vào các đại diện giao dịch ( Bài giảng của Ths.Vũ Anh Tuấn- Đại học thương mại) - Thanh toán phi mậu dịch: Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hóa, không mạng tính chất thương mại.
Đó là thanh toán các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở các nước sở tại, các chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn khách, chính phủ, các tổ chức, cá nhân. ( Bài giảng của Ths.Vũ Anh Tuấn- Đại học thương mại) 2.2 Các phương thức thanh toán quốc tế Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả hàng trong giao dịch, mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu với người xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ… mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm riêng. Vì vậy việc lựa chọn phương thức thanh toán thích hợp phải được người nhập khẩu và người xuất khẩu bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương.
Mỗi phương thức là một phương pháp đảm bảo thanh toán, việc chuyển giao"tiền thật sự" hay "chi trả" giữa người mua và người bán được thực hiện bởi các phương thức đó SVTH: Trần Duy Khiên 4 Lớp: K47E2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Mai Thanh Huyền 2.1 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán, phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng (do ngân hàng mở). Phương thức này là phương thức phổ biến nhất được các bên tham gia hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì nó bảo vệ quyền lợi cho cả người bán và người mua. Hiện nay ở Việt Nam và các nước đang phát triển tỷ trọng thanh toán bằng L/C chiếm 80% trong tổng kim ngạch hàng hoá XNK.2 Phương thức chuyển tiền Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng ủy nhiệm cho Ngân hàng phục vụ mình trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho một người khác ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Ngân hàng khi thực hiện việc chuyển tiền theo ủy nhiệm được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì đối với người mua lẫn người bán. Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi thanh toán hết cho người thụ hưởng, trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu của người chuyển tiền, mà người thụ hưởng không thể khiếu nại gì với ngân hàng. Trong quan hệ mua bán, thanh toán quốc tế, phương thức chuyển tiền chỉ được chọn là phương thức thanh toán đối với các nhà kinh doanh xuất- nhập khẩu, cung ứng dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh toán này rất dễ nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, trong khi phương thức chuyển tiền, đặc biệt là chuyển tiền điện là phương thức thanh toán nhanh nhất hiện nay 2.3 Phương thức ghi sổ Đây là phương thức thanh toán mà qua đó tổ chức xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện như đã thỏa thuận. Khi thực hiện phương thức này, tổ chức xuất khẩu đã thực hiện một giao dịch tín dụng cho tổ chức nhập khẩu dưới dạng tín dụng thương mại.
Thông thường, phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa 2 đơn vị quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau SVTH: Trần Duy Khiên 5 Lớp: K47E2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Mai Thanh Huyền 2.4 Phương thức thanh toán nhờ thu Phương thức thanh toán nhờ thu hay còn gọi là ủy thác nhưng được thực hiện theo quy tắc thống nhất về thu chứng từ thương mại do phòng thương mại quốc tế ban hành năm 1967 và có điều chỉnh lại năm 1978. Phương thức thanh toán nhờ thu qua đó tổ chức xuất khẩu khi đã hoàn thành nghĩa vụ gửi hàng, giao chứng từ hàng hoá ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra ở người nhập khẩu thông qua ngân hàng phục vụ người nhập khẩu. Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở cả 2 bên nhà nhập khẩu lẫn nhà xuất khẩu, chỉ tham gia với tư cách là nhà trung gian đi thu tiền hộ, có nhận giữ chứng từ có liên quan đến hàng hoá đã gửi đi, nhưng không bị ràng buộc trách nhiệm, phải kiểm tra chứng từ nhờ thu, cũng như việc giấy nhờ thu có được nhà nhập khẩu chấp nhận và thanh toán hay không.
Phương thức thanh toán này hoàn toàn dựa vào sự tín nhiệm lẫn nhau giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, nó có bảo đảm hơn tuy nhiên tốc độ thanh toán chậm, rủi ro cho bên nhà nhập khẩu lớn trong trường hợp nhà xuất khẩu không chịu thanh toán, từ chối nhận hàng vì lý do giá mua sản phẩm đó đang xuống mà người bán không chấp nhận giảm giá và nhất là lô hàng nhập về không còn phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, người bán chỉ còn cách nhờ ngân hàng bên mua lấy hàng cất vào kho, mua bảo hiểm và tìm nguồn tiêu thụ hết số hàng này. Nhờ thu phiếu trơn Nhờ thu phiếu trơn là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu mà mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng. Nhờ thu kèm chứng từ Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó bên bán ủy nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền của người mua không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo yêu cầu là ngân hàng chỉ trao bộ chứng từ hàng hoá cho người mua sau khi họ đã thanh toán tiền hoặc ký chấp nhận trả tiền trên hối phiếu. SVTH: Trần Duy Khiên 6 Lớp: K47E2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Mai Thanh Huyền 2. Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ 2.1 Một số lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ 2.1 Nội dung của L/C - Số hiệu của L/C: Tất cả các thư tín dụng đều có số hiệu riêng. Tác dụng của số hiệu là để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C và số hiệu L/C còn để dùng ghi vào các chứng từ có liên quan. - Địa điểm và ngày mở L/C + Địa điểm L/C: là ngày phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu.
Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn luật khi xảy ra tranh chấp - xung đột pháp luật về L/C đó. + Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện mở L/C có đúng như trong hợp đồng không. - Loại L/C - Tên, địa chỉ những người liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ. Những người có liên quan chia làm 2 loại: + Các thương nhân: gồm những người nhập khẩu là người yêu cầu mở L/C, người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C.
+ Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo - Tên, địa chỉ ngân hàng mở L/C - Tên địa chỉ người hưởng lợi - Số tiền bằng chữ và bằng số của L/C Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số vừa được ghi bằng chữ và thống nhất với nhau. - Thời hạn hiệu lực: thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C. + Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C.