Chương 1: Lý luận chung về thanh toán quốc tế và phương thức tín dụng chứng từ Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh NHTMC K thương Hà Nội sau đây gọi t t là TCB Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ tại TCB Hà Nội. Tuy đã nỗ lực hoàn thành khóa luận nhƣng do trình độ có hạn, kiến thức thực tiễn chƣa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong đƣợc sự thông cảm và góp ý của ban lãnh đạo, thầy cô giáo, các bạn cũng nhƣ của các cô chú,anh chị công tác tại TCB Hà Nội để bài luận văn của em đƣợc hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Nguyễn Thị Mai Vân – Lớp cao học 1102A 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. KHÁI QUÁT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ: 1. Khái niệm thanh toán quốc tế: Quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia bao gồm nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, hợp tác văn hoá, khoa học – kỹ thuật, du lịch. Tuy nhiên, quan hệ này đƣợc chia làm hai loại: Quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch.
Trong các mối quan hệ trên thì quan hệ kinh tế chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ sở cho các mối quan hệ khác. Cũng nhƣ tất cả các quan hệ quốc tế đều cần thiết và đều liên quan tới vấn đề tài chính. Nó đƣợc đánh giá thông qua kết quả hoạt động ở từng thời kỳ, từng niên hạn. Do đó, nghiệp vụ thanh toán quốc tế là hết sức cần thiết.
Vậy, thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trên cơ sở hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, và nó thường được thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các nước liên quan. Vai trò của thanh toán quốc tế: Nguyễn Thị Mai Vân – Lớp cao học 1102A 11 Ngày nay trong xu hƣớng toàn cầu hóa nền kinh tế và thƣơng mại quốc tế ngày càng phát triển, thanh toán quốc tế (TTQT) đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các NHTM. Hoạt động TTQT của NHTM là một mắt xích không thể thiếu trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại thƣơng. Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTQT, NHTM đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế, cho khách hàng và cho bản thân các ngân hàng.
Đối với nền kinh tế: Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nƣớc. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích lũy trao đổi trong nƣớc mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp giữa sức mạnh trong nƣớc với môi trƣờng kinh tế quốc tế. trong bối cảnh hiện nay khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đƣờng tất yếu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế đất nƣớc thì vai trò hoạt động của TTQT ngày càng đƣợc khẳng định. TTQT là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.
TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. TTQT góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy hanh quá trình lƣu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động TTQT đƣợc tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến hoạt động lƣu thông hàng hóa tiền tệ giữa ngƣời mua,ngƣời bán diễn ra trôi chảy,an toàn hơn. TTQT làm tăng cƣờng các mối quan hệ giao lƣu kinh tế giữa các quốc gia, giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí cho các chủ thể tham gia.
Bên cạnh đó, hoạt động TTQT làm tăng khối lƣợng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lƣợng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam. Đối với khách hàng: Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp Nguyễn Thị Mai Vân – Lớp cao học 1102A 12 quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đƣợc tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ. Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát đƣợc tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tƣ vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lƣợc khách hàng.
Đối với bản thân ngân hàng: TTQT là một loại nghiệp vụ liên quan dến tài sản ngoại bảng của ngân hàng. Hoạt động TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT. Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy tín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ƣu thế tạo nên sức cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trƣờng.
Hoạt động TTQT không chỉ là một hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Hoạt động TTQT đƣợc thực hiện tốt sẽ mở rộng cho hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thƣơng, tài trợ thƣơng mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác. Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu đƣợc nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT với các ngân hàng dƣới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.
TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT đƣợc thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lƣới ngân hàng. Hoạt động TTQT cũng làm tăng cƣờng mối quan hệ đối ngoại của ngân hàng, tăng cƣờng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tín của mình trên trƣờng quốc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của các ngân hàng nƣớc ngoài và nguồn vốn trên thị trƣờng tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân Nguyễn Thị Mai Vân – Lớp cao học 1102A 13 hàng Tóm lại, có thể khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động TTQT của NHTM đối với khách hàng, nền kinh tế và bản thân ngân hàng. Các phương thức thanh toán quốc tế: Phƣơng thức thanh toán là cách thức mà thông qua đó ngƣời nhập khẩu trả tiền để nhận hàng hoá hoặc dịch vụ, còn ngƣời xuất khẩu giao hàng hoặc thực hiện các dịch vụ để nhận tiền.
Việc trả tiền và nhận tiền này đƣợc thực hiện thông qua ngân hàng. Có nhiều phƣơng thức thanh toán quốc tế đang đƣợc sử dụng hiện nay nhƣ: chuyển tiền, nhờ thu, mở tài khoản, tín dụng chứng từ. Tùy từng điều kiện cụ thể, các bên sẽ thoả thuận với nhau để sử dụng phƣơng thức thanh toán phù hợp với quan hệ thƣơng mại và thanh toán giữa họ. hương thức thanh toán chuyển tiền Remittance : Phƣơng thức chuyển tiền là phƣơng thức thanh toán mà trong đó khách hàng (ngƣời trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho ngƣời khác (ngƣời thụ hƣởng) ở một địa điểm nhất định bằng phƣơng tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Ở đây, ngƣời trả tiền có thể là ngƣời mua, ngƣời nhập khẩu, ngƣời mắc nợ… Còn ngƣời thụ hƣởng có thể là ngƣời bán, ngƣời xuất khẩu, chủ nợ… Phƣơng tiện chuyển tiền có thể là chuyển bằng thƣ (Mail Transfer – M/T), chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T) hoặc sử dụng mạng SWIFT liên ngân hàng. Với phƣơng thức này, ngân hàng chỉ đứng ở vị trí trung gian phục vụ khách hàng và nhận phí. Phƣơng thức thanh toán chuyển tiền có ƣu điểm là thủ tục đơn giản, nhanh gọn. Tuy nhiên, đây cũng là phƣơng thức thanh toán chứa đựng nhiều rủi ro.
Nếu là thanh toán trƣớc thì ngƣời mua không chỉ bị đọng vốn mà còn không đƣợc đảm bảo về số lƣợng và chất lƣợng hàng hoá. Còn nếu là thanh toán sau thì ngƣời bán có thể bị rủi ro không đƣợc thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán mặc dù đã giao đủ hàng cho ngƣời mua. Do những hạn chế nhƣ trên nên phƣơng thức này thƣờng chỉ áp dụng cho các đối tác làm ăn lâu dài, có uy tín và tin cậy lẫn nhau. hương thức thanh toán nhờ thu: Nguyễn Thị Mai Vân – Lớp cao học 1102A 14 Phƣơng thức nhờ thu là phƣơng thức thanh toán mà ngƣời bán sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho ngƣời mua sẽ uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng từ do ngƣời bán lập.
Căn cứ vào cách thức yêu cầu thanh toán của bên bán có thể phân biệt thành hai hình thức nhờ thu, đó là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ: Nhờ thu trơn là phƣơng thức thanh toán trong đó bên bán sau khi giao hàng cho bên mua sẽ uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ bên mua căn cứ vào hối phiếu do chính bên bán lập. Còn các chứng từ thƣơng mại có liên quan đến giao dịch bên bán chuyển giao trực tiếp cho bên mua mà không qua ngân hàng. Nhƣ vậy, phƣơng thức này cũng không an toàn nên chỉ áp dụng trong trƣờng hợp bên mua và bên bán có quan hệ bạn hàng tin cậy. Nhờ thu kèm chứng từ là phƣơng thức thanh toán trong đó ngƣời bán sau khi giao hàng cho ngƣời mua sẽ uỷ nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ ngƣời mua không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá gửi kèm theo hối phiếu với điều kiện nếu ngƣời mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho ngƣời mua nhận hàng.