CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN VÈ HỆ THÓNG ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. R ủi ro tín dụng tại N gân hàng thư ơng m ại 1. K h ái niệm và ph ân loại rủi ro tín dụng K hái niệm RRTD Theo ủy ban Basel về giám sát NH thì RRTD là khả năng một bên vay hay bên đối tác của NI I không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận [10, tr4].Lange thì ‘‘RRTD là khoản lỗ tiềm năng khi NH cấp TD cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của NH không thể thực hiện được cả về số lượng và thời hạn” [10, tr4].
Theo Điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng đế xử lý RRTD trong hoạt động NH của Tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam, “RRTD trong hoạt động của Tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của Tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các khái niệm về RRTD trên, chúng ta có thể rút ra những kết luận sau: - RRTD chính là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa thu nhập thực tế và thu nhập kỳ vọng - đúng hạn, nhận được đầy đủ gốc và lãi khi NH cấp TD cho khách hàng. - RRTD là những tốn thất tiềm năng có thể xảy ra do khách hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết [10, tr5]. Những tổn thất tiềm năng này có thế được NH dự tính hoặc nằm ngoài dự tính của NH.
Phân loại R R T D RRTD gồm có hai loại chính là RRTD danh mục (Porfolio Risk) và Rui ro giao dịch (Transaction Risk). RRTD danh mục bao gom: - RRTD nội tại (Intrinsic Risk) xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi ngành nghề kinh tế hoặc cua mỗi chú thể vay vốn. - Rủi ro tập trung (Concentration Risk) là rủi ro khi mức dư nợ cho vay dồn cho một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay, hoặc một số khu vực địa lý. Rủi ro xảy ra do tính tập trung của khoản TD mang lại.
Rủi ro giao dịch bao gồm: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến việc thẩm định và phân tích TD. - Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thế đảm bảo. - Rủi ro nghiệp vụ: là loại rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây dựng và thực hiện chính sách TD đế định hướng cho việc thực hiện cho vay và kiêm soát danh mục cho vay, bao gồm ca việc xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Nguyên nhân và hậu quá của rủi ro tín dụng Nguyên nhân RRTD RRTD là hệ quả của rất nhiều yếu tố, được quy về hai nhóm nguyên nhân chính, đó là nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan.
Nhỏm nguvên nhân khách quan là các tác nhân gây ra RRTD bất khả kháng, xay ra ngoài ý muôn và tâm kiêm soát của con người như: - Tình hình chính trị và hệ thống pháp luật không ổn định: Việc chính trị không ổn định, hệ thống văn bản pháp lý chồng chéo, chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ hở sẽ làm cho các chủ thể kinh tế không thích nghi được với sự thay đổi, lúng túng trong quá trình thực hiện và từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, đến khả năng trả nợ của các đcm vị kinh doanh. - Môi trường kinh doanh thay đổi: Đó là sự thay đổi chu kỳ kinh tế, lạm phát, sự hội nhập kinh tế quốc tế. Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến khách hàng của NH, đến khả năng thanh toán các khoán vay, đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế suy 6 thoái, lạm phát cao khi mà tất cả các điều kiện kinh doanh đều trở nên khó khăn hơn. - Các yếu tố xã hội: dân số, tâm lý, thói quen tiêu dùng, tập quán, trình độ văn hóa.Đây là những yếu tố mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải có sự quan tâm thích đáng vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại cũng như phát triển của các đơn vị kinh doanh và qua đó tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh NH.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin: Việc NH không theo kịp đà phát triển của công nghệ như việc ứng dụng các phần mềm chuyên ngành cũng như việc khách hàng vay vốn không ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường đều có thể dẫn đến RRTD cho NIL Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm: - về phía NH: rủi ro phát sinh khi chính sách TD của NĨI chưa họp lý, NH không đủ thông tin về khách hàng, không đu các chỉ tiêu phân tích, đánh giá dẫn đôn việc xác định sai hiệu quả của kể hoạch kinh doanh của khách hàng, phân tích không chính xác khả năng trả nợ của khách hàng cũng như việc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không chính xác là nguyên nhân chính dẫn đến sự lựa chọn sai lệch, từ đó dẫn đến RRTD. Hơn nữa việc kiểm tra, giám sát khách hàng vay vốn sau khi giải ngân không sát sao, không thường xuyên đánh giá lại khả năng trả nợ của khách hàng và sự tin tưởng chắc chắn vào tài sản đảm bảo cũng tiềm ẩn nhiều RRTD cho NH. - về phía khách hàng: Sư dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay, Khả năng quản lý kinh doanh kém, tình hình tài chính doanh nghiệp yêu kém, thiếu minh bạch.Những nhân tố này cần được nhận biết sớm để có thể hạn chê RRTD cho NH do nó có ảnh hưởng rất lớn đến các hệ số tài chính và khả năng trà nợ NH của khách hàng. Hậu quả cùa RRTD - Đổi với NH: Khi gặp RRTD, NH không thu được khoản TD đã cấp và lãi vay, nhưng vẫn phải trả gốc và lãi cho các khoản vốn huy động đến hạn, điều này làm cho NH rơi vào tinh trạng mất cân đối thu chi, rất có thể rơi vào trạng thái rủi ro thanh khoản.
Đồng thời, ngay chính hoạt động TD sẽ không hiệu quả, vòng quay 7 vòn TD giam. I ừ đó làm mất lòng tin của khách hàng vào NH (Hội chứng "Vết ố cafe”), anh hưưng nghiêm trọng đến uy tín cua \ ỉ! và hậu quả xa hơn là sự đố vỡ hoạt động MI. - Đôi với nền kinh tế: Là một định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế hoạt động có tính hệ thống, NH có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chú thê trong toàn bộ nên kinh tê. Vì thê, nếu có một NI I đồ vỡ sẽ ảnh hưởng dây truyền đến các NH khác (Hội chứng Domino) và các đối tượng có quan hê TD, hậu quả là sẽ gây nên những tác động không lường đối với hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Các yếu tố vĩ mô bị ảnh hường: GDP tụt giảm, nền kinh tế trì trệ giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định, chất lượng cuộc sống giảm sút. Quán lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Quán lý rủi ro tín dụng Vì RRTD luôn tồn tại và chấp nhận RRTD là cần thiết nếu các NH thực sự muôn duy trì và phát triển, nhưng “phớt lò’" các tốn thất tiềm ẩn và thuần túy chạy theo lợi nhuận hay đặt mục tiêu tối thiểu hóa RRTD tới mức gần bằng 0 sẽ có lợi hon cho một NH và cổ đông của họ? Đồ giải bài toán về mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận đó, cần đặt chúng trong bổi canh tương tác lẫn nhau, và trong nền tảng QLRRTD của một NH. QLRRTD là quá trình xác định, phân tích, đo lường và thực hiện các biện pháp để tối ưu hóa mức RRTD đối với NỉI.
QLRR 1D được thực hiện theo quy trình tuần tự gồm 4 bước sau: • Bước 1: Nhận diện RRTD. • Bước 3: Quản lý và xử lý RRTD. • Bước 4: Kiểm soát RRTD, xem xét và đánh giá lại. Như vậy, ỌLRRTD là công việc mang tính hệ thống bao gồm nhiều công đoạn.
Mỗi NH, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động, mục tiêu kinh doanh, chiến lược phát triển sẽ lựa chọn một hệ thổng quản lý rủi ro phù hợp. Mục tiêu Quán lỷ rủi ro tín dụng 8 Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ một nhà quàn trị doanh nghiệp hay tổ chức kinh doanh nào là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Trước dây. thước do truyền thống để đánh giá mục tiêu đó là tỷ suất lợi nhuận tính trên tổng tài sản (ROA) hoặc vốn chủ sở hữu (ROE).Thế nhưng, đối với nhà NH hiện đại, tuy vẫn là mục tiêu tối đa hóa các tỷ suất lợi nhuận nói trên, nhưng phải là các tỷ suất này sau khi đã được điều chỉnh rủi ro (RAROC).
Nói cách khác, nhiệm vụ của các nhà quản trị NH hiện đại với cô đông, với chu sở hữu NH và các đôi tác khác là dám bảo rằng, với mức độ rủi ro mà họ đã chấp nhận, mức sinh lời từ việc sử dụng các nguồn lực của NH là tôi ưu nhất, hoặc ngược lại, tại mức sinh lời mà họ đạt được, mức độ rủi ro là thấp nhất. Nói cách khác, mục tiêu cơ bản của QLRRTD là tối đa hóa lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro của NH bằng cách duy trì RRTD trong phạm vi các tham số chấp nhận được. Nguyên tắc Quản lý rủi ro tín dụng Mặc dù thực hành QLRRTD cụ thể có thể khác nhau giữa các NH tuỳ theo bản chất và mức độ phức tạp của các hoạt động TD, theo Uỷ ban Basel (tại ấn phẩm số 75 tháng 09/2000), một chương trình QLRRTD toàn diện sẽ nhằm vào bốn lĩnh vực: (i) xây dụng môi trường RRTD phù họp; (ii) thực hiện theo một quy trình cấp TD họp lý; (iii) duy trì hệ thống quản lý, đo lường và theo dõi TD phù họp; và (iv) bảo đảm có đủ kiểm soát đối với RRTD: Thứ nhất, xây dựng môi trường RRTD phù hợp - Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và rà soát định kỳ (ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách về RRTD của NH.