CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ c o BẢN VÈ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TÉ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VÈ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TÉ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thanh toán quốc tế [1,2,3,4,5] Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực đời sổng xã hội của mỗi một quốc gia. Đe tồn tại và phát triển các quốc gia đều phải tăng cường mở cửa, hợp tác và hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
Quan hệ quổc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, công nghệ, ngoại giao. trong đó quan hệ kinh tế đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển. Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tể dần đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triền hoạt động thanh toán quổc tể, trong đó ngân hàng là cầu nổi trung gian giữa các bên. Như vậy: “ T h a n h t o á n q u ố c t ế l à v i ệ c t h ự c h i ệ n c á c n g h ĩ a v ụ c h i t r ả v à q u y ề n h ư ở n g l ợ i v ề t i ề n t ệ p h á t s i n h t r ê n c ơ s ở c á c h o ạ t đ ộ n g k in h t ế v à p h i k in h t ể g i ữ a c á c t ổ c h ứ c , c á n h â n n ư ớ c n à y v ớ i tô c h ứ c , c á n h ả n n ư ớ c k h á c , h a y g i ữ a m ộ t q u ố c g i a v ớ i t ổ c h ứ c q u ố c tế , t h ô n g q u a q u a n h ệ g i ữ a c á c n g â n h à n g c ủ a c á c n ư ớ c l i ê n q u a n.
Từ khái niệm trên cho thấy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế, hai lĩnh vực này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt. Hơn nữa do hoạt động TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương nên người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là thanh toán ngoại thương và thanh toán phi ngoại thương. 4 TTQT trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế.
Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là họp đồng ngoại thương.[l] TTQT phi ngoại thương ( thanh toán phi mậu dịch) là việc thực hiện thanh toán không liên quan đen hàng hoá xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài mà đó là việc chi trả các chi phi của các cơ quan ngoại giao, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân, các nguồn trợ cấp từ nước ngoài.[1 ] Tóm lại, TTQT là nghiệp vụ phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tể. Là sự vận dụng của các điều kiện bao gồm: điều kiện về tiền tệ, về địa điểm thanh toán, thời gian thanh toán và phương thức thanh toán. Tuy nhiên nó là khâu có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả và sự phát triển hoạt động ngoại thương cũng như dịch vụ ngân hàng của quổc gia. TTQT chính là cơ sở nền tảng cho hoạt động xuất nhập khẩu tồn tại và phát triển.
Vai trò của thanh toán quốc tế 1. Đối với nền kinh tể Trong điều kiện nền kinh tế thể giới ngày càng được quốc tế hoá, các quốc gia ra sức phát triển kinh tể thị trường, mở cửa, họp tác và hội nhập thì TTQT nôi lên như một chiếc cầu nối giừa kinh tế trong nước và kinh tế thể giới. TTQT có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hổi và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Ngày nay, hoạt động TTQT ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tể đẩt nước.
Thông qua hoạt động TTQT chúng ta mới thu được nguồn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ 5 cho sản xuất và tiêu dung trong nước. Qua đó có thể phát huy được tiềm năng của đắt nước, đồng thời tận dụng vốn và công nghệ hiện đại của các nước công nghiệp phát triển nhàm thúc đấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thê giới. Vì vậy, TTQT đang từng bước khẳng định được vai trò trong hoạt động kinh tể quốc dân nói chung và hoạt động đói ngoại nói riêng. TTQT là khâu quan trọng không the thiếu trong quá trình mua bán, trao đôi hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân, giữa các quốc gia khác nhau.
TTQT đã liên kết các quốc gia lại với nhau, làm cho quan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ thương mại quốc tể ngày càng mở rộng và phát triển. Sự tác động ngược lại của các quan hệ này thể hiện ở phát triển của hoạt động TTQT cả về chất và lượng. Hoạt động TTQT nhanh chóng, an toàn, chính xác sè giải quyết được mối quan hệ lưư thông hàng hoá, tiền tệ một cách trôi chảy và hiệu quả. Như vậy, đổi với nền kinh tế, hoạt động TTQT có những vai trò sau: - Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK của nền kinh tế - Bôi trơn và thúc đẩy đầu tư nước ngoài - Thúc đây và phát triển hoạt động dịch vụ - Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác - Thúc đây thị trường tài chính hội nhập quốc tế 1.
Đối với ngân hàng thương mại Đôi với ngân hàng thương mại, TTQT không chỉ là nghiệp vụ không thê thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mà còn là hoạt động bồ sung, hồ trợ cho các hoạt động khác như: huy động vốn ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ XNK, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương. cùng phát triên. Hơn nữa trong thời kỳ hội nhập, hoạt động TTQT trở nên rất quan trọng đối với NHTM, nó đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng và là 6 một mắt xích quan trọng để chắp nối và thúc đẩy hoạt động kinh doanh của NHTM. Ngoài ra, do nghiệp vụ ngân hàng quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, thuận tiện, an toàn và hiệu quả vì vậy hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh doanh quốc tế, nâng cao uy tín của ngân hàng đổi với khách hàng.
Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Hoạt động TTQT còn có ý nghĩa đói với các doanh nghiệp, đặc biệt là đổi với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XNK vì việc mua bán với các bạn hàng ở các nước khác nhau, có vị trí khác nhau nên việc tìm hiểu bạn hàng là hạn chế. Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường, khoa học kỳ thuật và công nghệ thông tin ngày càng phát triển tạo cơ hội cho kẻ xấu lừa đảo, rủi ro đối với các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hợp đồng XNK ngày càng tăng. Do đó, TTQT được thực hiện qua ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp hạn chê những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh thương mại quôc tế thông qua việc ngân hàng tư vấn, hướng dẫn cho các doanh nghiệp, từ đó thúc đây hoạt động XNK phát triển và tạo ra lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp. Như vậy, trong xu thể toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường ngày càng phát triên thì hoạt động TTQT có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với nền kinh tế nói chung mà còn có ý nghĩa đối với NHTM và các doanh nghiệp XNK.
TTQT là điều kiện để hoạt động ngoại thương cũng như nền kinh tể của một quổc gia phát triển mạnh mè.3 C á c p h ư o n g th ứ c th a n h to á n q u ố c tá Ị1,2,3,4,5Ị Phương thức TTQT là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người NK và người XK. Hiện nay 7 trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau được áp dụng như: chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu, tín dụng chứng từ. Căn cứ vào tính chất pháp lý điều chỉnh, phương thức TTQT bao gồm: 1.1 Nhóm phương thức không có tập quán quốc tế điều clĩỉnh Ịl,2,3! y Phương thức chuyên tiền ( Remittance) Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyến tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định. y Phương thức ghi sô (Open account) Là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành giao hàng thì ghi Nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định kỳ như đã thoả thuận.
Như vậy, về thực chất đây là phương thức thanh toán nợ còn khất lại, ngược với phương thức thanh toán ứng trước. 'P Phương thức ứng trước —Advanced payment Là người mua chấp nhận giá hàng của người bán bằng đơn đặt hàng chắc chắn (không huỷ ngang) đồng thời chuyển tiền thanh toán một phần hay toàn bộ cho người bán, nghĩa là việc thanh toán xảy ra trước khi hàng hoá được người bán chuyến giao cho người mua. Trong phương thức ứng trước, ngân hàng có thể tham gia qua việc nhận và chuyên tiền thuần tuý cho các bên.