CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƯỚC CỦA NGÂN HÀNG THUONG MAI 1. DỊCH VỤ THANH TOÁN TRONG NƯỚC QUA NGÂN HÀNG 1. Khái niệm Thanh toán qua ngân hàng là hình thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ giữa người chỉ trả và người thụ hưởng qua ngân hàng, trong đó ngân hàng. đóng vai trò là trung gian thanh toán.
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng là dịch vụ mà trong đó ngân hàng thực hiện thanh toán (chi hộ hoặc thu hộ) theo yêu cầu của khách hàng (bên trả tiền hoặc bên thụ hưởng) với tư cách là trung gian thanh toán. Dich vu thanh toán trong nước qua ngân hàng là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng mà giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia. Như vậy, qua các khái niệm nói trên, chúng ta có thễ hiểu một cách vấn tắt rằng: DVTTTN qua ngân hàng chính là dịch vụ mà các NHTM cung ứng cho. khách hàng dùng để thanh toán tiễn hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đã sử dụng trong phạm vi của một nước.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, DVTTTN qua ngân hàng được xem là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, thường bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán của khách hàng và dich vu thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng. Các dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán bao gồm: séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm chỉ, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng, chuyển tiền, thu hộ, chỉ hộ. Các dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán bao gồm: chuyển tiền, thu hộ, chỉ hộ và một số dịch vụ thanh toán khác [8], 1. Đặc điểm của dịch vụ thanh toán trong nước qua ngân hàng.
10 Nhìn chung, DVTTTN qua ngân hàng thường có những đặc điểm sau Một là, giao dịch thanh toán được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia. Đây là đặc điểm nồi bật nhất dùng đẻ phân biệt giữa DVTTTN với dịch vụ thanh toán quốc tế. Khác với dịch vụ thanh toán quốc tế thường bao gồm các giao dịch thanh toán vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia, DVTTTN bao gồm các giao dịch thanh toán được xác lập, thực hiện và kết thúc trong. phạm vi lãnh thé của một nước.
Hai la, hệ thống thanh toán của các ngân hàng thường được áp dụng các công nghệ tiên tiến nhất và được kết nối trực tiếp với nhau hoặc thông qua vai trò trung gian của NHNN. 'Với vai trò là trung gian thanh toán giữa các khách hàng, để có thể thực hiện các giao dịch thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, các NHTM thường ứng dụng những công nghệ tiên tiền nhất vào trong hoạt động. thanh toán của ngân hàng Với vai trò là trung gian thanh toán của nền kinh tế, hệ thống thanh toán của các NHTM thường được kết nối trực tiếp với nhau nhằm đây nhanh tốc độ thanh toán của nền kinh tế. Trường hợp vì lý do gì đó mà hệ thống thanh toán của các NHTM chưa thê kết nối trực tiếp với nhau thì NHNN với chức năng quản lý Nhà nước của mình sẽ đứng ra làm trung gian để thực hiện việc kết nói hệ thống thanh toán giữa các NHTM lại với nhau nhằm đảm bao cho hoạt động thanh toán của nẻn kinh tế được thông suốt.
Ba là, các giao dịch thanh toán thường có độ an toàn và bảo mật cao. Nhờ ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhất vào trong hoạt động thanh toán nên DVTTTN qua ngân hàng thường có tinh bao mat rat cao, hầu hết các giao dịch thanh toán của khách hàng đều được thực hiện một cách tự động, đảm bảo độ chính xác, an toàn gần như tuyệt đối. Do đi ủi ro phat sinh trong i quá trình thanh toán không nhiều, chủ yếu là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro do. các loại tội phạm công nghệ cao thực hiện.
Bốn là, DVTTTN qua ngân hàng có mối liên hệ mật thiết với nhiều nghiệp vụ kinh doanh khác của ngân hàng. Nhờ việc cung ứng DVTTTN cho khách hàng, các ngân hàng đã huy động được một khối lượng vốn lớn với lãi suất thấp thông qua số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng. Đây chính là một trong những nguồn vốn quan trọng làm cơ sở để ngân hàng có thể thực hiện chính sách giảm lãi suất cho vay đề cạnh tranh với các ngân hàng khác. Ngoài ra, các ngân hàng cũng có thể sử dụng DVTTTN để thực hiện việc giải ngân tiền vay của khách hàng bằng cách thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng nhằm đảm bảo tiền vay được sử dụng đúng mục đích.
Hoặc thông qua DVTTTN, các ngân hàng có thể tiễn hành kiểm soát dòng tiền thanh toán của khách hàng để thu hồi nợ vay hay thu thập thông tin để phục vụ cho công tác khách hàng. Vai trò của dịch vụ thanh toán trong nước qua ngân hàng. DVTTTN qua ngân hàng có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế cũng như đối với bản thân ngân hàng và khách hàng. a) Đối với nền kinh tế Thông qua việc cung ứng DVTTTN, các ngân hàng đã cung cấp cho nền kinh tế nhiều phương tiện thanh toán nhanh chóng, an toản, tiện lợi.
Chính nhờ có DVTTTN mà các chủ thể trong nền kinh tế có thể tiết kiệm. được nhiều thời gian, chỉ phí trong việc thanh toán. Qua đó, đây nhanh tốc độ. thanh toán, thúc đây lưu thông hàng hóa, góp phần phát triển nền kinh tế.
'Việc cung ứng DVTTTN còn giúp cho nẻn kinh tế giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, qua đó tiết kiệm được chỉ phí lưu thông tiền mặt như. in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm,. Ngoài ra, nó còn giúp cho các cơ 12 quan thắm quyền tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế và chống thất thu thuế một cách có hiệu quả. Một vấn đề nữa là thông qua việc cung ứng DVTTTN, các ngân hàng đã huy động được một khối lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư phát triển nên kinh tế.
b) Đối với ngân hàng Việc cung ứng DVTTTN giúp cho ngân hàng tăng thêm thu nhập thông qua việc thu phí dịch vụ thanh toán. Đồng thời, nó còn giúp cho ngân hàng. gia tăng nguồn vốn huy động với chỉ phí thấp để cho vay nền kinh tế, góp phan gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, thông qua việc cung ứng.
DVTTTN, các ngân hàng còn có thể thu thập được thông tin về khách hàng để phục vụ cho công tác tín dụng nói riêng và công tác khách hàng nói chung. ©) Đất với khách hàng Việc sử dụng DVTTTN qua ngân hàng giúp cho khách hàng thực hiện việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ được nhanh chóng, an toàn, tiện lợi Qua đó, giúp cho khách hàng tiết kiệm được thời gian, chỉ phí liên quan đến việc thanh toán. Hơn nữa, nó còn giúp cho khách hàng có thêm thu nhập thông qua lãi suất mà ngân hàng trả cho khách hàng dựa trên số dư tiền gửi có trong tài khoản tiền gửi thanh toán. Các hình thức thanh toán trong nước qua ngân hàng Theo quy định của pháp luật hiện hành, các NHTM trong nước được phép cung ứng cho khách hàng những thể thức thanh toán sau: a) Thanh todn bing séc Séc là lệnh chỉ vô điều kiện của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng để đề nghị ngân hàng phục vụ mình trích tiền tir tai khoản tiền gửi của mình để trả cho người hưởng có tên trên séc hoặc người cầm tờ séc đó.
Séc được dùng để lĩnh tiền mặt hoặc chuyển khoản. Việc cho lĩnh tiền 13 mặt hay không thuộc thẩm quyền của người ký phát hành hoặc người chuyển nhượng. Séc cũng có thể được chuyển nhượng từ người này qua người khác thông qua việc ký hậu chuyển nhượng. Khi tờ séc được chuyển nhượng thì toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tờ séc cũng được chuyển theo.
b) Thanh toán bằng lệnh chỉ hoặc ủy nhiệm chỉ 'Thanh toán bằng lệnh chỉ hoặc ủy nhiệm chỉ là việc ngân hàng thực hiện yêu cầu của bên trả tiền trích một số tiền nhất định trên tài khoản thanh toán của. bên trả tiễn dé trả hoặc chuyển tiễn cho bên thụ hưởng [14]. Sau khi bên trả tiền lập giấy ủy nhiệm chỉ theo mẫu của ngân hàng, ủy nhiệm chỉ có thể được chuyển đến cho ngân hàng thông qua người lập hoặc người thụ hưởng. Nhận được ủy.
nhiệm chỉ, ngân hàng tiến hành kiểm tra xem tai khoản của người lập có đủ số dư để thực hiện lệnh chỉ hay không. Nếu đủ, ngân hàng sẽ tiền hành trích tiền từ tài khoản của người chỉ trả để chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng. Nếu số dư không đủ thì ngân hàng từ chối thực hiện thanh toán ủy nhiệm chỉ. ©) Thanh toán bằng ñy nhiệm thu “Thanh toán bằng ủy nhiệm thu là việc ngân hàng thực hiện theo đề nghị của bên thụ hưởng thu hộ một số tiền nhất định trên tài khoản thanh toán của bên trả tiền để chuyên cho bên thụ hưởng trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản về việc ủy nhiệm thu giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng [14].
Sau khi bên thụ hưởng lập giấy ủy nhiệm thu theo mẫu của ngân hàng, ủy nhiệm thu sẽ được gửi cho ngân hàng phục vụ bên người thụ hưởng để ngân hàng này thực hiện thu hộ tiền từ bên nhận chỉ trả. 4) Thanh toán bằng chuyễn tiền Thanh toán bằng chuyên tiền là việc ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của bên trả tiền nhằm chuyên một số tiền nhất định cho bên thụ hưởng. Bên thụ hưởng có thể là bên trả tiền [ 14]. 14 Dịch vụ chuyên tiền bao gồm dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản thanh toán và không qua tài khoản thanh toán của khách hàng.
Đối với địch vụ chuyển tiền không qua tài khoản thanh toán của khách hàng, khách hàng có nhu cầu chuyển tiền phải nộp tiền mặt vào ngân hàng đề ngân hàng chuyền trả cho bên thụ hưởng. Có thể nói dịch vụ chuyển tiền là nghiệp vụ truyền thống của các NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển tiền của khách hàng từ nơi này sang. nơi khác hoặc từ tài khoản này sang tài khoản khác. Hiện tắt cả các NHTM trong nước đều cung cấp dich vụ này nhưng dịch vụ chuyển tiền chi phát triển mạnh và thuận lợi ở những NHTM nào có hệ thống chỉ nhánh rộng khắp và phân bổ theo địa giới hành chính.
Tuy nhiên, trong tương lai gần, khi các NHTM hiện đại hóa dẫn công nghệ và tiến tới sử dụng dịch vụ ngân hàng.