phần mở đầu, kết luận và danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo, danh mục phụ lục thì kết cấu của luận án gồm 3 Chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng tín dụng của ngân hàng thƣơng z xviii mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. z 1 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng của NHTM Theo quan điểm của Các Mác “Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu đến ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi lại một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu” [1]. Kinh tế học hiện đại cho rằng “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận” [15]. Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 “cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”[23].
Như vậy, tín dụng là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là hình thức vận động của vốn cho vay, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và chủ thể sử dụng đối với nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, là một sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng một lƣợng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện cam kết mà hai bên đã thoả thuận, trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi. Có thể nói bản chất của tín dụng biểu hiện mối quan hệ vay mƣợn và hoàn trả, thể hiện qua các nội dung: – Ngƣời cho vay chuyển cho ngƣời vay một lƣợng giá trị nhất định. – Ngƣời đi vay chỉ đƣợc sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, ngƣời đi vay phải hoàn trả cho ngƣời z 2 cho vay phần vốn gốc cộng với khoản phí cơ hội mà ngƣời cho vay mất đi khi bỏ lỡ cơ hội đầu tƣ tốt hơn. Từ bản chất tín dụng cho thấy, tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng và khách hàng trong đó ngân hàng vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay.
Với tƣ cách là ngƣời đi vay, ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dƣới nhiều hình thức và dùng số tiền huy động đƣợc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn và phân bổ lại nguồn lực đầu tƣ của xã hội vào các lĩnh vực của nền kinh tế một cách có hiệu quả. Khái niệm rủi ro tín dụng RRTD phát sinh khi ngƣời vay hoặc bên đối tác có nguy cơ không thể thực hiện đƣợc trách nhiệm trong giao dịch tín dụng, ngân hàng có nguy cơ không nhận đƣợc phần gốc và/hoặc lãi của các khoản vay. Hay “RRTD là sự thay đổi của thu nhập thuần và giá trị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không đƣợc thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn” [6].
Theo Uỷ ban Basel: “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện đƣợc các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”. Thực chất rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng theo uỷ ban Basel đó là: "Sự vỡ nợ của ngƣời giao ƣớc trong hợp đồng” mà sự vỡ nợ đƣợc xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/ hoặc lãi [2, 13]. Ảnh hƣởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của NHTM – Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Rủi ro tín dụng ở mức độ cao phản ánh năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng không tốt, làm suy giảm uy tín của ngân hàng trên thị trƣờng huy động vốn do suy giảm lòng tin của công chúng gửi tiền, suy giảm tín nhiệm trên thị z 3 trƣờng tiền quốc tế và khu vực gây khó khăn trong việc quan hệ vay vốn nƣớc ngoài, thiết lập quan hệ trong hoạt động kinh doanh khác. – Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút: Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiết kiệm của dân cƣ vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn.
Nguồn vốn huy động không đƣợc dồi dào do mất uy tín, cũng vì thế ngƣời rút tiền lại càng tăng lên, kết quả là ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán. – Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi đƣợc nợ vay nhƣ dự kiến ban đầu, làm chậm tốc độ quay vòng vốn, gây ra những thiệt hại về mặt tài chính, thêm vào đó là quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, bế tắc, thu nhập giảm kết quả là làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. – Rủi ro tín dụng làm tăng nguy cơ phá sản ngân hàng: Rủi ro tín dụng kéo dài gây thất thoát lƣợng vốn quá lớn dẫn đến các NHTM có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản. Việc phá sản một ngân hàng có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền có tính hệ thống gây nên phá sản các ngân hàng khác nếu ngân hàng phá sản ban đầu có vị thế quan trọng trong hệ thống các TCTD và làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế, chính trị quốc gia.
– Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trƣờng là rủi ro đối với lợi nhuận và vốn của ngân hàng do những thay đổi trong mức lãi suất, chứng khoán, tỷ giá ngoại tệ và cổ phiếu cũng nhƣ sự biến động trong các giá cả đó. Rủi ro thị trƣờng còn đƣợc gọi là rủi ro “giá cả”. – Rủi ro tín dụng: Là rủi ro phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng cho vay mà không có khả năng thu hồi đƣợc đầy đủ gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn [7]. Nếu không có rủi ro thì nguồn thu nhập tín dụng của ngân z 4 hàng là có giới hạn dƣới dạng lãi của các khoản tín dụng, khi có rủi ro, ngân hàng có thể mất một phần hay toàn bộ lãi và vốn gốc.
Điều này còn phụ thuộc vào khả năng bồi hoàn của tài sản thế chấp và kết quả của việc thanh lý tài sản trong trƣờng hợp ngƣời đi vay phá sản. CÁC LOẠI RỦI RO Rủi ro thị Rủi ro tín Rủi ro hoạt Rủi ro thanh trƣờng dụng động khoản Lãi suất Sự phá giá tín Giao dịch không Rủi ro thanh tỷ giá dụng đƣợc thực hiện khoản ngắn hạn chứng khoán giao dịch bất rủi ro hoàn trả 30–40% hợp pháp nợ Chấp nhận rủi ro nhƣ là hoạt Tránh hoặc giảm thiểu rủi ro động cốt lõi của ngân hàng Nguồn: Tổng hợp của tác giả Hình 1.1: Các loại rủi ro của ngân hàng thƣơng mại – Rủi ro thanh khoản: Các ngân hàng cần phải luôn luôn giữ một mức thanh khoản vừa đủ để đúng ở trạng thái mà trong các điều kiện kinh doanh bình thƣờng có thể thực hiện đƣợc tất cả các nghĩa vụ, thực hiện đầy đủ các cam kết và đáp ứng các cam kết khác mà họ đƣa ra. Khi ngân hàng không đảm bảo đƣợc nhu cầu thanh toán hay không dự liệu trƣớc đƣợc nhu cầu có tính chất thời vụ, gây ra sự mất lòng tin vào ngân hàng dẫn đến việc rút tiền gửi một cách đồng loạt chính là rủi ro thanh khoản. CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm chất lƣợng tín dụng của NHTM Chất lƣợng là một khái niệm quen thuộc với con ngƣời và đƣợc đề cập rất nhiều trong các sách kinh tế ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Tuy nhiên, chất lƣợng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy theo đối tƣợng sử dụng, từ z 5 “chất lƣợng” có ý nghĩa khác nhau. Hiện nay chƣa có một định nghĩa thống nhất nào về chất lƣợng.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000 – 2000 đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Chất lƣợng là toàn bộ các đặc tính của sản phẩm, hệ thống, quá trình đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, “Chất lƣợng là tổng thể các đặc điểm và đặc tính của một sản phẩm hoặc dịch vụ có ảnh hƣởng đến khả năng thoả mãn đƣợc những nhu cầu đƣợc nêu ra” (trích 1987/ ISO8402). Là một tổ chức kinh tế trong nền kinh tế, các NHTM cũng rất quan tâm đến chất lƣợng hoạt động kinh doanh của mình, trong đó đặc biệt quan tâm đến CLTD. CLTD là một phạm trù kinh tế phản ánh các đặc tính của tín dụng, thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu của các khách hàng, phù hợp với sự phát triển Kinh tế – Xã hội và đáp ứng yêu cầu phát triển của ngân hàng trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
CLTD của NHTM là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh hoạt động tín dụng của NHTM nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tín dụng và lợi ích của khách hàng, tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại, phát triển bền vững của ngân hàng, trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. CLTD của ngân hàng là phạm trù kinh tế đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu về vốn tín dụng và mang lại lợi ích kinh tế cho khách hàng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo lợi ích kinh tế, sự an toàn vốn đầu tƣ của ngân hàng. Tƣơng tự CLTD là mức độ đáp ứng tối đa nhu cầu vốn hợp lý, có hiệu quả cho doanh nghiệp nói riêng và khách hàng nói chung, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và an toàn cho ngân hàng.