Chương 1 trình bày tổng quan về các lý luận cơ bản đề cập đến năng lực cạnh tranh của NHTM và vận dụng các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM. Đưa ra các phương pháp nghiên cứu mà tác giả đã sử dụng trong việc phân tích năng lực cạnh tranh của Agribank. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Khái niệm cạnh tranh.
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia… Ở mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế - xã hội, khái niệm cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới những góc độ khác nhau. Dưới thời kỳ Chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc, Mác đã quan niệm cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Ngày nay khi nền kinh tế thế giới đã dần đi vào quỹ đạo của sự ổn định và xu hướng chính là hội nhập, hòa đồng giữa các nền kinh tế, cơ chế hoạt động là cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước thì khái niệm cạnh tranh mất hẳn tính giai cấp, tính chính trị nhưng về bản chất thì vẫn không thay đổi.
Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được những mục tiêu của t chức, doanh nghiệp đó. Hàng loạt các lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời trong thế kỷ XX như lý thuyết của Micheal Porter, J.Krugman… Trong đó, phải kể đến lý thuyết "lợi thế cạnh tranh" của Micheal Porter trong cuốn “Chiến lược cạnh tranh” NXB Khoa học và Kỹ thuật năm 1996, theo M. Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi 123doc 5 nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Trong cuốn “Thị trường, chiến lược, cơ cấu” NXB Trẻ năm 2003, Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình. Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước… Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.
Vậy cạnh tranh là một quan hệ kinh tế tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua nhau gay gắt, đấu tranh với nhau quyết liệt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong công cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt được tất cả những gì mình mong muốn. Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình.
Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhưng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngược. Năng lực cạnh tranh của NHTM. Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt, và vì NHTM cũng tồn tại với mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Vì thế, có thể khái niệm về năng lực canh tranh của NHTM như sau: Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.
Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị điều hành, mạng lưới hoạt động, mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh. Năng lực cạnh tranh của NHTM thể hiện thành các lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh khác nhưng các lợi thế đó không phải là bất biến. Điều đó phụ thuộc vào mỗi ngân hàng trong việc thường xuyên duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh. Có những NHTM gần như không có lợi thế cạnh tranh hoặc lợi thế chỉ ở dạng tiềm năng, tuy nhiên do biết cách khai thác và sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả các lợi thế tiềm năng đó đã nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng bao hàm cả việc ngân hàng phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Nói cách khác, ngân hàng phải liên tục duy trì lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường. Việc hạ thấp giá thành dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh theo quan niệm mang tính dài hạn không bao gồm việc hạ giá thành bằng những biện pháp tiêu cực như cắt giảm lương nhân viên, cắt giảm các chi phí phúc lợi, giảm chi phi môi trường… Năng lực cạnh tranh phải gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội. Sự khác nhau giữa cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng với cạnh tranh trong lĩnh vực khác.
Đối tượng kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là các dịch vụ tài chính, liên quan đến tiền và hoạt động mang tính hệ thống, liên kết khá chặt chẽ, nên cạnh 123doc 7 tranh trong hoạt động ngân hàng có một số điểm khác biệt so với cạnh tranh trong lĩnh vực khác. Thứ nhất, cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng không bắt buộc phải triệt hạ đối thủ, không phải là một cuộc chiến một mất một còn, mà ngược lại, ngân hàng chỉ có thể phát triển trong điều kiện hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính cùng phát triển lành mạnh và ổn định. Một tổ chức ngân hàng bị phá sản có thể ảnh hưởng rất xấu, mang tính lan truyền sang các ngân hàng khác, gây tai họa cho nền kinh tế của một nước, thậm chí cho cả một khu vực. Thứ hai, ngân hàng vừa cạnh tranh vừa mang tính hợp tác vì sản phẩm ngân hàng, mà biểu hiện rõ nhất ở sản phẩm dịch vụ thanh toán, ATM,… thì một ngân hàng chỉ thực hiện tốt khi liên kết, hợp tác với ngân hàng khác.
Như vậy, cho dù cạnh tranh lẫn nhau để đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn, thị phần lớn hơn,… nhưng các ngân hàng vẫn phải hợp tác với nhau. Thứ ba, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ là động lực để bản thân các ngân hàng phát triển, mà còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nền kinh tế phát triển. Khi cạnh tranh, ngân hàng sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhanh chóng, cạnh tranh trong lãi suất giúp doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn với chi phí lãi vay thấp hơn… 1. Nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nâng cao năng lực cạnh tranh là việc phát hiện và sử dụng tốt hơn nữa các yếu tố nội sinh vào sản xuất và kinh doanh. Nâng cao năng lực cạnh tranh là việc làm quan trọng và hết sức cần thiết. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu rõ thị trường, phân tích và dự báo chính xác các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như các đối thủ cạnh tranh. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM.
Năng lực tài chính. Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Năng lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu: - Vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn. Tiềm lực vốn (mức độ an toàn vốn) của NHTM được đánh giá cao hay thấp là phụ thuộc vào quy mô vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn vốn, tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng càng mạnh, càng tạo đ uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng càng lớn.
Chỉ tiêu này phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro. Đây là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định quy mô hoạt động của một ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng, tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. - Chất lượng tài sản có phản ánh sức khỏe của một ngân hàng.
Cơ cấu tài sản có của ngân hàng bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, đầu tư trực tiếp, cho vay khách hàng, tài sản cố định, tài sản khác. - Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một ngân hàng thương mại làm ăn kinh doanh tốt, khả năng sinh lời cao sẽ có điều kiện trích lập các quỹ dự trữ, đầu tư mở rộng mạng lưới giao dịch, đầu tư công nghệ, do đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng.