Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm chung voi Châu Á Voi Châu Á (Elephas maximus) là loài thú có kích thước lớn thuộc Bộ có vòi (Proboscide), Họ voi (Proboscidea). Đặc điểm nhận biết: Thú lớn, nặng khoảng 3,5 - 6 tấn, thân dài 4 - 6m, đuôi dài 1 – 1,5 m, cao 2,5 – 3 m. Mũi và môi trên kéo dài thành vòi, vòi dài chấm đất.
Chân trước năm ngón, chân sau bốn ngón. Da dầy, lông thưa, màu xám hay nâu xám. Hai răng cửa của con đực phát triển dài nhọn, gọi là ngà. Răng hàm mọc thành khối.
Sinh thái và tập tính: Voi thường sống ở rừng thứ sinh, rừng rụng lá, rừng tre nứa và rừng nứa hỗn giao gỗ. Sống theo đàn từ 08 - 20 con và có xu thế phát triển thành các nhóm nhỏ theo truyền thống gia đình gồm voi bố, voi mẹ và voi con các thế hệ. Có thể gặp những con voi đực sống đơn độc và những con voi này thường rất hung dữ. Trong bầy đàn voi cái to nhất, khỏe mạnh thường ở vị trí đầu đàn, voi đực già yếu hoặc con đực trưởng thành thường tách khỏi đàn hoặc đi sau mỗi đàn.
Tổ chức xã hội của voi rất chặt chẽ, tập tính bảo vệ đồng loại khá cao, khả năng “nhớ dai” và “trả thù” của voi cao hơn các loài thú khác, nhất là sau khi bị săn lùng ráo riết, bị bẫy, bị bắn thương hoặc bị quấy rầy vùng sống của chúng. Vùng hoạt động của voi rất rộng, thường một con voi cái trưởng thành cần diện tích khoảng 6.000 ha, một con voi đực cần khoảng 20.000 ha để di chuyển kiếm thức ăn. Voi di chuyển theo mùa để kiếm thức ăn, nước và muối khoáng. Mùa khô hiếm nước và thức ăn, một ngày voi có thể di chuyển tới hơn 30km, trên diện tích khoảng 40.000 ha và thường tập trung tại những điểm nhiều thức ăn và ít bị quấy nhiễu.
Ban ngày voi thường tránh nắng nóng trong rừng gần nguồn nước, đêm đi ăn từ 18-19 giờ đến 3 - 4 giờ sáng hôm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thời gian kiếm ăn sớm hay muộn, dài hay ngắn phụ thuộc vào thời tiết, mùa trong năm, vùng khí hậu. Voi thường ăn măng tre, cỏ và nhiều loại cây bụi. Đã thống kê được một số loài cây thức ăn của voi như Ba gạc, Lười ươi, Mây nước, Dây vu sa, Chiếc lá hoa, Ngài gừng, Gội, Cỏ lác ba cạnh, Trà gừng, Lồ ô, Mây giã, Quấn đầu sông lu, Thẩu tấu, Nhọc lông, Đuôi voi nhiều gié, Chuối rừng và 09 loài cây ăn quả, nông nghiệp: Điều, Mít nhà, Chuối, Thơm, Mía, Bắp, lúa.
Mùa động dục của voi từ tháng 9 năm trước tới tháng 3 năm sau, thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, độ tuổi của cá thể. Biểu hiện động dục của voi đực là mắt vằn đỏ, chảy nước nhờn hoặc màu trắng đục ở mắt và vành tai, voi có biểu hiện ăn ít nhưng dễ nổi nóng và hung dữ, thể hiện rõ nhất ở con đực mới qua tuổi trưởng thành (trên 15 tuổi). Voi cái tiết mùi mồ hôi dẫn dụ ở bộ phận sinh dục và phát sóng siêu âm tần số thấp để liên hệ với voi đực. Thời gian mang thai của voi từ 22 - 24 tháng, thường mỗi lứa đẻ một con.
Voi con sau 15 tuổi thì trưởng thành sinh dục. Một đời voi mẹ chỉ đẻ 7 - 8 con. Những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Voi Châu Á (Elephas maximus) thuộc họ Voi (Proboscidea), Bộ Có vòi (Proboscide) là loài thú có giá trị bảo tồn cao. Danh lục Đỏ của IUCN (2011) xếp loài ở mức nguy cấp (EN), Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp mức rất nguy cấp (CR); loài thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Phụ lục II của công ước CITES.
Trước đây Voi Châu Á phân bố rộng ở hầu hết các nước thuộc Châu Á nhưng hiện nay loài chỉ còn phân bố ở 13 quốc gia với khoảng hơn 40.000 cá thể ngoài tự nhiên và khoảng 12.000 cá thể Voi nhà. Tại Việt Nam, những năm 90 loài Voi Châu Á phân bố khá rộng dọc theo biên giới phía Tây từ tỉnh Lai Châu tới tỉnh Đắk Lắk và các tỉnh Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Thuận với số lượng ước tính 1000 đến 1500 cá thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đến nay Theo điều tra cục kiểm lâm, hiện trên cả nước chỉ có địa phương còn các loài Voi châu á sinh sống đó là Nghệ An, Đaklak và Đồng Nai. Đàn voi ở Việt Nam hiện đang bị đe dọa và số lượng bị sụt giảm; Voi tại Việt Nam chỉ còn dưới 200 cá thể và chủ yếu tập trung ở Đắk Lắk với trên 100 cá thể, các nơi khác còn những quần thể nhỏ dưới 10 cá thể (Bộ Khoa học & Công nghệ và Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam, 2007).
Tỉnh Nghệ An là một trong 3 khu vực phân bố tập trung của Voi tại Việt Nam. Tại Vườn quốc gia Pù Mát có 03 đàn Voi với khoảng 11 cá thể phân bố tập trung ở 3 khu vực. Đàn thứ nhất gồm 3 cá thể, phân bố ở phía Đông Bắc VQG và vùng rừng thiên nhiên Pù Huống hiện còn có 1 đến 3 cá thể Voi hoạt động chủ yếu tại khu vực xã Bắc Sơn, huyện Quỳ Hợp .Còn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt vẫn còn 1 đàn Voi với số lượng từ 1 đến 3 cá thể Voi. Như vậy, tại Nghệ An các thông tin về tình trạng và phân bố của quần thể Voi vẫn chỉ dừng lại ở các Báo cáo khoa học và thông tin từ Kiểm lâm hoặc người dân địa phương mà vẫn chưa có những nghiên cứu chi tiết về quần thể Voi ở đây.
Đồng Nai theo báo cáo điều tra tổng thể loài Voi châu á của các chuyên gia Việt Nam và Ấn Độ vào tháng 12/2001, số lượng Voi ở khu vực vườn quốc gia Cát Tiên và các đơn vị phụ cận khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai có từ 15-20 cá thể. Đàn voi ở đây có cấu trúc đàn tốt, có khả năng sinh sản cao Đến năm 2009, cục kiểm lâm cũng đã tiến hành điều tra cho thấy số lượng cả thể là 17 trong đó có 3 voi đực, 3 voi cái, 4 voi con và các cá thể voi nhỡ. Đến 2011, 2012, 2013 chi cục kiểm lâm Đồng Nai tiếp tục có các cuộc giám sát, điều tra và phát hiện đàn voi rừng trên địa bàn chỉ còn khoảng 15 cá thể. Sinh cảnh và vùng hoạt động của đàn Voi cũng bị thu hẹp.
Theo điều tra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 các cơ quan kiểm lâm địa phương, trước năm 2000, vùng hoạt động của loài Voi trên khoảng 50.000ha, chủ yếu tập trung ở vườn quốc gia Cát Tiên Từ 2006-2009 các cuộc điều tra cho thấy vùng hoạt động của Voi ở khoảng 34.000ha và có chiều hướng voi đến gần các cánh rừng khu dân cư sinh sống như các xã Mã Đà, Phủ Lý (huyện Vĩnh Cửu). Đến các năm 2012, 2013 và 2014 Voi lại xuất hiện nhiều ở các khu vực gần khu dân cư xã Thanh Sơn (huyện Định Quán) và một phần thuộc Công ty Lâm nghiệp La Ngà. Vùng phân bố Voi bị thu hẹp, sinh cảnh xuống cấp, thiếu thức ăn và muối khoáng đã dẫn đến tình trạng xung đột giữa người và voi ngày càng gay gắt. Voi kéo về rẫy của dân để tìm thức ăn, khiến cho người dân luôn trong tình trạng hoang mang lo sợ.
Khoảng 4 năm trở lại đây tỉnh Đồng Nai đã chi gần 20 tỉ đồng để đền bù, hỗ trợ số hoa màu , nhà cửa của dân bị Voi phá. Tại tỉnh Hà Tĩnh, trong Báo cáo công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Vũ Quang năm 2011 đã nêu vào năm 1987, đàn Voi ở vườ quốc gia Vũ Quang có và công tác tuyên truyền bảo vệ đàn Voi”, nữ nghiên cứu sinh người Ấn Độ làm việc cho Tổ chức bảo vệ động vật thế giới WWF đã thông báo đàn Voi chỉ còn 5 con. Hiện nay, tại vườn quốc gia Vũ Quang đàn Voi chỉ còn lại 3 cá thể và đều là Voi cái, điều này đồng nghĩa với việc chúng không thể sinh sản để tăng số cá thể trong đàn. Vườn quốc gia Vũ Quang.
Xung đột giữa người và Voi đã xảy ra, cụ thể vào dịp tết Nhâm thìn năm 2012 đàn Voi rừng thường xuyên ra đường vào ban đêm và vườn của người dân để phá hoại hoa màu, quật phá cột điện, xe máy. Như vậy, nhìn tổng thể toàn quốc, các tỉnh Đông Bắc không có ghi nhận, Tây Bắc số lượng Voi còn rất ít thông tin ghi nhận, miền Trung còn những đàn voi có số lượng ít, hầu hết bị khó có khả năng kết nối thành đàn lớn để phát triển do bị ngăn cắt bởi các khu dân cư, khu canh tác nông nghiệp, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hầu hết các vùng còn voi ở gần biên giới hoặc cấu trúc đàn không có voi đực, riêng Đồng Nai số lượng Voi khả quan hơn nhưng đang bị đe dọa do xung đột, nạn săn bắn lấy ngà và các bộ phân cơ thể làm đồ trang sức. Những đàn voi nhỏ ở phía nam, hiện đang bị cô lập, di chuyển nơi rừng chật hẹp, thiếu thức ăn và phải đối mặt với tình trạng bị đầu độc trả thủ của người dân khi xảy ra xung đột. Các đàn voi có số lượng cá thể trên 10 con lại tập trung tại khu vực giáp biên giới đây cũng là yếu tố cản trợ các nỗ lực bảo tồn voi nếu không có sự phối hợp tầm quốc gia về các vấn đề về bảo tồn liên quốc gia.
Nguyễn Mạnh Hà và cộng sự ( 2009) [12]_ nghiên cứu vùng phân bố của Voi hoạt động trên 3 kiểu sinh cảnh chính là: Kiểu sinh cảnh rừng thường xanh và bán thường xanh hỗn giao lồ ô và tre; Kiểu sinh cảnh rừng thường xanh và Vùng xen kẽ rừng bán thường xanh với diện tích đất nông nghiệp; báo cáo cũng đã tổng hợp được danh lục của 27 loài thực vật được Voi sử dụng làm thức ăn. Ngoài ra báo cáo còn ghi nhận vùng phân bố của quần thể Voi hiện nay trên vùng rộng 34.000ha thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên và Văn Hóa Đồng Nai, Vườn Quốc Gia Cát Tiên và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp La Ngà. Đây là khu vực phân bố tập trung chủ yếu của kiểu rừng hỗn giao lồ ô và rừng hỗn giao thường xanh và bán thường xanh.