Tổng quan nghiên cứu
Quần thể voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) tại Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nghiêm trọng khi số lượng cá thể suy giảm hơn 90% chỉ sau hơn hai thập kỷ, từ khoảng 1.500 - 2.000 cá thể trong những năm 1990 xuống còn khoảng 100 - 120 cá thể vào năm 2013. Tình trạng sinh cảnh sống bị phân mảnh, thu hẹp diện tích cùng áp lực khai thác tài nguyên và xung đột gay gắt giữa người với động vật hoang dã đã đẩy loài thú lớn này vào danh mục Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN. Tại tỉnh Đồng Nai, từ năm 2009 đến năm 2011 đã ghi nhận ít nhất 10 cá thể voi bị chết bất thường, đồng thời các vụ xung đột voi - người (Human-Elephant Conflict - HEC) đã làm 1 người tử vong, 2 người bị thương và phá hủy hàng chục hecta hoa màu của người dân địa phương.
Trước thực trạng cấp bách đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lâm học của tác giả Nguyễn Ngọc Phượng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Kiều Mạnh Hưởng tại Trường Đại học Lâm nghiệp, đã thực hiện đề tài nhằm xác định chính xác hiện trạng số lượng, cấu trúc đàn, đặc tính phân bố và tập tính sinh thái học của quần thể voi. Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn với tổng diện tích 123.754 ha thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (100.300 ha) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp La Ngà (23.454 ha) trong khung thời gian từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016, đồng thời kế thừa chuỗi dữ liệu thực địa liên tục từ năm 2001 đến năm 2016. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý giảm thiểu 95% thiệt hại do xung đột voi - người, bảo vệ an toàn cho 14 cá thể voi quý hiếm và duy trì tính ổn định lâu dài cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Sinh thái cảnh quan (Landscape Ecology Theory) và Lý thuyết Động thái học quần thể động vật không gian lớn (Large Mammal Population Dynamics) để phân tích mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc sinh cảnh và sự phân bố cá thể. Mô hình tháp tuổi và tỷ lệ giới tính của Sukumar cùng mô hình đánh giá xung đột sinh thái không gian được tích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro đối với sự tồn vong của loài.
Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: Sinh cảnh sống tối ưu (Optimal Habitat), Hành lang di chuyển sinh thái (Ecological Corridor), Xung đột Voi - Người (Human-Elephant Conflict - HEC) và Sức tải môi trường (Carrying Capacity). Toàn bộ nội dung phân tích bám sát các cơ sở pháp lý cao nhất về bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam và quốc tế, bao gồm Nhóm IB theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tiêu chí xác định loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và Phụ lục I của Công ước CITES về kiểm soát buôn bán quốc tế các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.
Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập dữ liệu toàn diện, tác giả đã triển khai phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu gồm 52 phiếu phỏng vấn bán cấu trúc thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích. Mẫu điều tra bao gồm 30 phiếu dành cho người dân bản địa tại 6 ấp điểm nóng xung đột (ấp 2, 4 xã Phú Lý thuộc huyện Vĩnh Cửu; ấp 7 xã Mã Đà; ấp 4, 5, 7 xã Thanh Sơn thuộc huyện Định Quán), 15 phiếu dành cho lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn, 5 phiếu dành cho đội phản ứng nhanh xua đuổi voi và 2 phiếu chuyên gia tại các cơ sở cứu hộ động vật hoang dã. Phương pháp phỏng vấn có chủ đích này giúp tối ưu hóa độ chính xác của thông tin lịch sử xuất hiện và đường đi của đàn voi qua kinh nghiệm quan sát thực tế của cộng đồng dân cư sinh sống lâu năm.
Phương pháp điều tra thực địa được thiết lập trên 6 tuyến khảo sát chính với 32 tuyến nhánh thực nghiệm có chiều dài từ 5 đến 15 km mỗi tuyến, phủ kín 10% diện tích vùng hoạt động thường nhật của voi và được lặp lại từ 3 đến 5 lần mỗi tuyến trong hai khung giờ trọng điểm: sáng từ 6 giờ đến 12 giờ và chiều tối từ 13 giờ đến 21 giờ. Đồng thời, nghiên cứu bố trí các điểm quan sát cố định và lắp đặt hệ thống bẫy ảnh hồng ngoại tự động hoạt động từ 16 giờ chiều đến 7 giờ sáng hôm sau tại 7 tiểu khu trọng điểm của Khu bảo tồn (tiểu khu 59, 58, 43, 48, 99, 104) và các tiểu khu sản xuất của Công ty Lâm nghiệp La Ngà (tiểu khu 1, 2, 10, 11, 12, 21, 22, 25).
Về phương pháp xử lý số liệu, tác giả ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán thống kê mô tả, phân tích tần suất xuất hiện và tỷ lệ cấu trúc đàn. Kết hợp với việc ghi nhận tọa độ GPS tại các điểm phát hiện dấu vết (dấu chân, bãi phân, vết chà sát vỏ cây), dữ liệu không gian được nhập và xử lý bằng phần mềm Hệ thông tin địa lý MapInfo Professional 10.5. Sự kết hợp giữa công cụ thống kê số liệu và phần mềm GIS giúp số hóa chính xác bản đồ phân bố không gian, xác định rõ ranh giới hành lang di chuyển và các vùng sinh cảnh cốt lõi cần ưu tiên khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu đã xác định chính xác quần thể voi hoang dã tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai và vùng phụ cận có số lượng 14 cá thể, cho thấy xu hướng phục hồi và gia tăng tích cực so với mức 11 cá thể ghi nhận trong giai đoạn 2011 - 2013.
Thứ hai, cấu trúc lứa tuổi và giới tính của quần thể thể hiện tiềm năng sinh sản và phát triển tương đối bền vững. Trong tổng số 14 cá thể, nhóm trưởng thành trên 15 tuổi gồm 6 cá thể (chiếm 42,86% tổng đàn, gồm 2 voi đực và 4 voi cái); nhóm bán trưởng thành từ 5 đến 15 tuổi gồm 5 cá thể (chiếm 35,71% tổng đàn, gồm 2 voi đực và 3 voi cái); nhóm non dưới 5 tuổi gồm 3 cá thể (chiếm 21,43% tổng đàn, gồm 1 voi đực và 2 voi cái). Đặc biệt, bẫy ảnh và dữ liệu thực địa đã ghi nhận sự xuất hiện của 1 cá thể voi con mới sinh vào tháng 2/2016 tại tiểu khu 21 thuộc Đội 3 Công ty Lâm nghiệp La Ngà, minh chứng cho việc đàn voi đang duy trì chu kỳ sinh sản tự nhiên thuận lợi.
Thứ ba, cơ cấu bầy đàn có sự phân chia ổn định thành 2 nhóm gia đình chính cùng một số cá thể tách đàn độc lập. Nhóm thứ nhất gồm 6 cá thể (2 cái trưởng thành, 1 đực bán trưởng thành, 1 cái bán trưởng thành, 2 cá thể non) với tỷ lệ giới tính đực/cái đạt xấp xỉ 0,2 (tương ứng 1 đực/5 cái). Nhóm thứ hai gồm 7 cá thể (2 cái trưởng thành, 1 đực trưởng thành ngà lệch, 2 cái bán trưởng thành, 1 đực bán trưởng thành, 1 đực non) với tỷ lệ giới tính đực/cái đạt 0,75 (tương ứng 3 đực/4 cái). Ngoài ra, ghi nhận 1 cá thể voi đực trưởng thành thường xuyên di chuyển đơn lẻ, đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm sinh cảnh mới và tiếp cận các nhóm cái trong thời kỳ động dục.
Thứ tư, nghiên cứu đã làm rõ nhịp sinh học và tập tính dinh dưỡng đặc thù của loài voi tại khu vực. Một cá thể voi trưởng thành cần tiêu thụ lượng thức ăn từ 150 đến 200 kg sinh khối thực vật và hấp thụ từ 150 đến 300 lít nước mỗi ngày. Voi dành khoảng 16 giờ trong ngày cho hoạt động di chuyển và tìm kiếm thức ăn, trong khi thời gian ngủ nghỉ chỉ chiếm từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày. Vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, vùng phân bố của voi co cụm quanh các thủy vực lớn như lòng hồ Trị An rộng 32.400 ha và hệ thống suối Mã Đà, suối Sai Mát. Bước sang mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, voi mở rộng phạm vi hoạt động sang các dải rừng tre nứa và rừng phục hồi phía Tây Khu bảo tồn.
Thảo luận kết quả
Khi phân tích sâu về nguyên nhân biến động quần thể, kết quả cho thấy việc đàn voi tại Đồng Nai duy trì được mức tăng trưởng ổn định xuất phát từ chất lượng sinh cảnh rừng thường xanh và rừng hỗn giao gỗ - tre nứa tại đây còn tương đối màu mỡ, cung cấp thảm thực vật đa dạng giàu khoáng chất cần thiết như Canxi, Magie, Natri và Kali. So sánh với quần thể voi tại Vườn quốc gia Yok Đôn (tỉnh Đắk Lắk) với khoảng 83 - 110 cá thể hay Vườn quốc gia Pù Mát (tỉnh Nghệ An) với khoảng 11 cá thể, quần thể voi Đồng Nai có lợi thế vượt trội về nguồn nước ngọt dồi dào quanh năm nhờ hệ thống hồ Trị An và mạng lưới sông suối tự nhiên.
Tuy nhiên, xung đột voi - người tại địa phương diễn biến phức tạp chủ yếu do sự suy thoái hành lang kết nối sinh thái tự nhiên và sự gia tăng dân số vùng đệm với 82.512 nhân khẩu thuộc 17.919 hộ gia đình. Việc mở rộng hơn 1.500 ha cây ăn trái và hoa màu có hàm lượng đường và dinh dưỡng cao như xoài (787 ha), điều (735 ha), cam quýt (797 ha) tại các xã Thanh Sơn và Phú Lý đã thu hút đàn voi thường xuyên ra khỏi ranh giới rừng tự nhiên vào ban đêm để kiếm ăn.
Về mặt học thuật, các số liệu thực chứng này được trình bày trực quan thông qua bảng thống kê cấu trúc lứa tuổi - giới tính kết hợp biểu đồ cột mô tả diễn biến số lượng cá thể voi qua các mốc thời gian 1999, 2001, 2009, 2011 và 2016. Bên cạnh đó, bản đồ phân bố không gian tỷ lệ 1/50.000 xây dựng trên phần mềm MapInfo đã phản ánh chân thực các tuyến di chuyển trọng điểm và các vị trí xung đột cục bộ, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc hoạch định các giải pháp kỹ thuật quản lý động vật hoang dã.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm bảo tồn bền vững quần thể voi châu Á và triệt tiêu xung đột giữa voi và người tại tỉnh Đồng Nai, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể như sau:
Thứ nhất, triển khai hoàn thiện và duy trì vận hành ổn định hệ thống hàng rào điện bán tự động dài trên 50 km dọc theo ranh giới rừng tự nhiên với các khu vực canh tác nông nghiệp tại các xã Thanh Sơn (huyện Định Quán), xã Phú Lý và Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu). Mục tiêu đặt ra là ngăn chặn 95% nguy cơ voi xâm nhập khu dân cư trong giai đoạn 2017 - 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính là Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện liên quan.
Thứ hai, kiện toàn và đào tạo nâng cao năng lực thực chiến cho 2 Đội phản ứng nhanh tại xã Thanh Sơn và xã Phú Lý. Đảm bảo trang bị 100% công cụ xua đuổi không sát thương bao gồm loa âm thanh công suất lớn, đèn pha chuyên dụng và pháo sáng xua đuổi an toàn. Kế hoạch đào tạo và bổ sung kinh phí thường niên cần hoàn tất trước quý II/2018 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện Định Quán và huyện Vĩnh Cửu.
Thứ ba, tiến hành quy hoạch phục hồi sinh cảnh sống và cải tạo nguồn thức ăn tự nhiên trên diện tích 200 ha tại 7 tiểu khu rừng trọng điểm (59, 58, 43, 48, 99, 104 thuộc Khu bảo tồn và tiểu khu 21 thuộc Công ty Lâm nghiệp La Ngà). Chủ động trồng bổ sung các loài thức ăn ưa thích của voi như chuối rừng, các loài tre nứa, cỏ họ Hòa thảo và xây dựng 5 bãi liếm khoáng nhân tạo bổ sung vi lượng khoáng chất. Thời gian thực hiện từ năm 2018 đến năm 2022 do Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai làm chủ đầu tư.
Thứ tư, thực hiện chính sách chia sẻ lợi ích và hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp cho 17.919 hộ dân sinh sống tại vùng đệm. Mở rộng diện tích giao khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ và sản xuất thêm 1.761,89 ha, hướng tới mục tiêu nâng cao 25% thu nhập ổn định cho người dân địa phương vào năm 2025 nhằm giảm thiểu áp lực khai thác lâm sản trái phép, do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai phối hợp với Công ty Lâm nghiệp La Ngà thực hiện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học giá trị, cung cấp hàm lượng thông tin chuyên sâu cho nhiều nhóm đối tượng:
Thứ nhất, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học. Tài liệu này cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra động vật rừng nguy cấp, thiết lập tuyến khảo sát và kỹ thuật bẫy ảnh hồng ngoại trong nghiên cứu thực địa.
Thứ hai, cán bộ kỹ thuật và lực lượng kiểm lâm tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc. Các đơn vị này có thể vận dụng trực tiếp quy trình xử lý điểm nóng xung đột voi - người và mô hình phân vùng sinh cảnh để quản lý các loài thú lớn có tập tính di chuyển rộng.
Thứ ba, các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm cùng các tổ chức phi chính phủ quốc tế về môi trường như WWF, IUCN. Bộ dữ liệu định lượng trong luận văn là bằng chứng thực tế phục vụ xây dựng Chiến lược quốc gia về bảo tồn voi và phân bổ nguồn kinh phí tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học.
Thứ tư, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư sinh sống tại các vùng đệm có thú lớn phân bố. Tài liệu giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về tập tính của voi, nắm bắt các biện pháp tự phòng vệ an toàn và cách thức phối hợp với lực lượng chức năng khi xảy ra sự cố động vật rừng xâm nhập nương rẫy.
Câu hỏi thường gặp
Số lượng cá thể voi châu Á tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai được ghi nhận chính xác là bao nhiêu? Theo kết quả điều tra thực địa toàn diện của luận văn, quần thể voi tại khu vực hiện có 14 cá thể sinh sống ổn định. Con số này cho thấy xu hướng tăng trưởng tích cực so với thời điểm năm 2011 chỉ còn 11 cá thể, khẳng định hiệu quả của các biện pháp bảo vệ sinh cảnh tại địa phương.
Cấu trúc đàn và khả năng sinh sản của quần thể voi Đồng Nai hiện nay ra sao? Quần thể có cơ cấu sinh học rất lý tưởng với 6 cá thể trưởng thành, 5 cá thể bán trưởng thành và 3 cá thể non dưới 5 tuổi. Tỷ lệ cá thể non chiếm tới 21,43% và việc ghi nhận 1 cá thể voi con chào đời vào tháng 2/2016 chứng minh đàn voi đang có khả năng sinh sản tự nhiên rất tốt.
Tập tính dinh dưỡng hàng ngày của voi châu Á tại khu bảo tồn diễn ra như thế nào? Mỗi cá thể voi trưởng thành tiêu thụ từ 150 đến 200 kg sinh khối thực vật và hấp thụ từ 150 đến 300 lít nước mỗi ngày. Voi dành tới 16 giờ trong ngày để kiếm ăn các loại cỏ, tre nứa, chuối rừng và chỉ ngủ khoảng 3 đến 5 giờ mỗi ngày.
Đâu là nguyên nhân cốt lõi gây ra tình trạng xung đột giữa voi và người tại địa phương? Nguyên nhân chủ yếu do sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp, kết hợp với việc diện tích trồng cây ăn quả ngọt như xoài (787 ha), điều (735 ha), cam quýt (797 ha) tại vùng đệm gia tăng, kích thích voi rời khỏi rừng tự nhiên vào ban đêm để tìm kiếm nguồn thức ăn hấp dẫn.
Giải pháp kỹ thuật nào được đánh giá hiệu quả nhất để ngăn chặn voi phá hoại hoa màu? Hệ thống hàng rào điện bán tự động dài trên 50 km kết hợp cùng các Đội phản ứng nhanh sử dụng công cụ xua đuổi không sát thương được chứng minh là giải pháp tối ưu nhất, giúp ngăn chặn 95% nguy cơ voi xâm nhập nương rẫy mà không làm tổn thương cá thể voi.
Kết luận
- Luận văn đã xác định chính xác số lượng quần thể voi châu Á tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai gồm 14 cá thể với cấu trúc lứa tuổi cân bằng và khả năng sinh sản tự nhiên tốt.
- Phân tích chi tiết 8 nhóm tập tính sinh thái học quan trọng, xác định rõ không gian phân bố theo mùa khô và mùa mưa gắn liền với hệ thống thủy văn hồ Trị An rộng 32.400 ha.
- Đánh giá toàn diện các nguyên nhân gây xung đột voi - người và lượng hóa mức độ thiệt hại kinh tế tại các vùng canh tác thuộc huyện Định Quán và huyện Vĩnh Cửu.
- Đề xuất hệ sinh thái 4 giải pháp đồng bộ bao gồm hàng rào điện, đội phản ứng nhanh, phục hồi 200 ha sinh cảnh thức ăn và phát triển sinh kế cho 17.919 hộ dân vùng đệm.
- Thiết lập cơ sở dữ liệu GIS chuẩn xác trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000, tạo công cụ quản trị số hóa đắc lực cho lực lượng kiểm lâm và ban quản lý khu bảo tồn.
Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh khoa học hoàn chỉnh và xác thực về quần thể voi hoang dã tại vùng Đông Nam Bộ, giải quyết triệt để bài toán dung hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2018 - 2025 cần tập trung vào việc số hóa dữ liệu bẫy ảnh di truyền học và mở rộng hành lang sinh thái kết nối sang Vườn quốc gia Cát Tiên. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và cộng đồng hãy cùng chung tay áp dụng các khuyến nghị từ luận văn để bảo vệ vĩnh viễn loài voi quý hiếm cho thế hệ tương lai.