Chương 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu đa dạng khu hệ chim loài chim là một thảnh phần quan trọng của hệ sinh thái tự nhiên nói chung và hệ động vật hoang đã nói riêng. Chúng cô mồi quan hệ chặt chế với môi trường sống, trong đó có nhiều loài được lựa chọn như là những loài chỉ thi chất lượng sinh cảnh và tính đa dang sinh học của một khu vực cụ thể. Do đó dé quan lý, bảo tổn và pháttriển được khu hệ chim tại các Vườn Quốc Gia (VQG) và Khu BTTN thì việc xác định được tính đa dang cũng như các mỗi quan hệ sinh thái là vô cùng quan trọng. Khi các mỗi quan hệ sinh thái được chỉ ra một cách rõ rằng cũng như duy trì một cách cân bằng thì khu hệ chim mới có cơ hội được duy tr và phát tiễn, Các loài chim là những sinh vật nhạy cảm đặc biệt với những tác động, biến đổi của điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là những biến đổi của môi trường.
Xu thé biến đổi quần thé của các loài có liên quan mật thiết đến sự. biến đổi của chất lượng sinh cảnh sống. Những tác động tiêu cực của con người đến môi trường sống như: khai thác rừng trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng dat, săn bắn, dịch bệnh. đều là những nguy cơ hàng đầu cho sự suy giảm số lượng loài và số lượng cá thé của quần thẻ.
Do đó, dé bảo vệ và phát triển các loài chim ic bảo vệ môi trường sống và sinh cảnh cư trú của chúng là một trong những ưu tiên hàng đầu. Ngoài tic động lên sinh cảnh sống, con người cdn gây ra những tác động trục tiếp dẫn tới sự suy giảm các loài và số lượng cá thể. Đáng kể nhất trong số đó là hoạt động săn bắt trái phép vì mục đích thương mại, kèm theo. đó là các hoạt động có liên quan như buôn bán và nuôi nhốt trái phép các loài chim.
Chúng ta có thể bắt gặp hoạt động này ở bat kỳ các khu vực nảo trên lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt là tại các khu bảo vệ như: VQG hay Khu BTTN, Hậu quả mà nó mang lại là vô cùng lớn mà điển hình là sự suy giảm đáng kể về số lượng cá thể các loài, thậm chí gây ra tình trạng tuyệt chủng cục bộ tại nhiều khu vực. Điển hình trong số đó là các loài chim quý hiểm, có kích thước lớn giá tri thương mại cao như Công, Hồng hoàng, Niệc mỏ Việc nghiên cứu dé xác định thành phần loài, tính đa dạng của khu hệ chim, phân bé vả các mối quan hệ sinh thai, đồng thời eh ra những tác động, tiêu cực đến khu hệ chim của một khu vực ey thẻ là yêu cẩu cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Kết quả của những nghi cứu này không. chỉ góp phần bổ sung các dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, quản lý đa dạng sinh học mà còn giúp các địa phương, đơn vị, đặc biệt là các VQG, Khu BTTN chủ động xây dựng những chiến lược bảo tồn khu hệ chim một cách phù hợp và hiệu quả.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu chim ở Việt Nam và Khu bão tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Sơ lược lich sử nghiên cứu về khu hệ chim ở Việt Nam Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chim tại Việt Nam chỉ được bắt đầu từ những năm cuối thể ky 19 và đầu thé ky 20. Đầu tiên, công trình nỗi bật cần đề ip là của tác giả Oustalet với tên gọi “Chim Cam pu chia, Lao, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” [72, 73]. Trong giai đoạn này, E.Boutan có tổ chức sưu tim ehim ở vùng đồng.
Kết quả của đợt sưu tầm này được xuất bắn vào năm 1905 trong tập "Mười năm nghiên cứu động vật". Sau đó, bộ sưu tập này đã được Ménégaux phân tích và cho công bổ [70]. Vào năm 1917, nhà khoa học người Nhật Bản Kuroda đã phân tích bộ sưu tập chim đo S, Txikia sưu tim vào năm 1911-1912 ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai và ghỉ nhận được 130 loài và loài phụ [66]. ‘Nam 1929, Kínne đã công bố kết quả phân tích bộ sưu tập chim và trứng chim tại vùng Tây Bắc Việt Nam [66].
Kết quả đã xác định được 219 loài và loài phụ, đồng thời bổ sung thêm 11 loài và loài phụ chim mới ở miễn Bắc. Việt Nam trong giai đoạn này. Vao năm 1931, công trình "Chim Đông Dương” được xuất bản bởi hai tác giả Delacour và Jabouille [60]. Công trình này đã mô tả 954 loài và loài phụ, tuy nhiên tác giả chưa.
nhiều đến đặc điểm sinh học và phân bố. của các loài mà chỉ để p đến thành phần loài. Trong giai đoạn 1931 - 1945, các công trinh nghiên cứu chim tại Việt Nam rất hạn chế do nh nguyên nhân khác nhau. Đảng kể nhất trong giai đoạn nay là công trinh nghiên cứu của Milon (1942) thực hiện tại tinh Lạng Sơn [71].
Kết quả nghiên cứu đã xác định được 140 loi và loài phụ. Trong thời gian từ năm 1941 1942, Bourret đã phân tích một vai bộ sưu tập nhỏ thu được ở vùng Đông Bắc Vi Nam, trong đó tập trung ở tỉnh Lạng Sơn và một số địa phương lân cận [53-55]. Tir 1945 - 1954, do ảnh hưởng của chiến tranh, các hoạt động nghiên cứu. khoa học về động vật nói chung và các loài chim nói riêng bị gián đoạn va chỉ hoạt động mạnh trở lại khi miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.
Trong thời gian này có một số công trình được công bố bởi các nhà khoa học Việt Nam như Võ Quý, Trần Gia Huấn, Đỗ Ngọc Quang, Dao Văn Tiến [21-24] và các công trình nghiên cứu của W.Fisher nghiên cứu. về chim miền Bắc Việt Nam công bévào năm 1961, 1962 [61,62]. Năm 1964, Lê Diên Dực có công bổ những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của 2 loài Sáo mỏ ngà vã Sáo mỏ vàng ở Việt Nam [10]. Các công bổ này cho thấy, việc nghiên cứu chim đã chuyên sâu hơn, ngoài phân loại các nhà khoa học cũng quan tâm hơn đến nghiên cứu các đặc điểm sinh thái của các loài chim một cách cụ thé.
Năm 1971, Võ Quý đã công bố công trình "Sinh học các loài chim thường gặp ở Việt Nam” [25] với sự mô tả tương đối chí tiết của gần 700 loài và loài phụ về các đặc điểm sinh học, sinh thái học cơ bản của loài. Trong số đó, tác giả đã bổ sung một loài mới (Gà lôi trắng Lophura hatinhensis) và một loài phụ mới (phân loài Hút mật tam đảo Nectarinia jugularis tamdaoensis cho khoa học. Năm 1972, Võ Quý tiếp tục đưa ra kết quả nghiên cứu về sự phân bổ theo sinh cảnh của khu hệ chim Bắc Việt Nam [26]. Day là những.
nghiên cứu tạo nền móng chocacs nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh thái. phân bố của các loài chim sau nay, Sau khi giải phóng hoàn toàn miễn Nam, thống nhất đất nước năm 1975, nhị hoạt động nghiên cứu vé chim ở Việt Nam được day mạnh. Nỗi bật là công trình "Chim Việt Nam, hình thái và phân loại” của tác giả Võ Quy [27,28]. Trong tài liệu này, hơn 1000 loài và phân loải chim được thống kê và mô tả.
Năm 1981, Uy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đã công bố "Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam" trong đó có đánh giá đến. tài nguyên chim [46]. Tiếp đó, năm 1985, St sanya, Võ Quý và cộng sự đã công bd một liệu về sinh học, sinh thái của chim rờng nhiệt đới Việt Nam [30]. Năm 1983, Lê Vũ Khôi đã công bố kết quả nghiên cứu vé nguồn.
lợi chim trong báo cáo kết quả nghiên cứu về nguồn lợi động vật trung du. Năm 1995, Võ Quý, Nguyễn Cứ đã xuất bản công trình "Danh lục chim Việt Nam” với $28 loài thuộc 19 bộ, 81 họ chim ở Việt Nam [29]. Đặc biệt trong công trình này, các tác giả đã mô tả chỉ tiết n trạng và vùng phân "bố của mỗi loài. Năm 2000, Nguyễn Cứ, Lê Trọng Trải, Karren Philips đã xuất bản cuốn “Chim Việt Nam” với khoảng 850 loài, trong đó có khoảng 500 loài được mô tả chi tiết về đặc điểm phân bố, tinh trang va noi ở có kèm hình vẽ màu minh hoạ [7].
Đây là tài liệu tương đối đầy đủ về các loài chim, đồng. thời là tài liệu được nhiễu nhà khoa học sử dung dé định loại các loài chim ở. 'Việt Nam trong các đợt nghiên cứu thực địa Nam 2001, Nguyễn Cử đã công b6 một số thông tin mới vẻ kết quả điều tra chim ở Việt Nan với 19 loài chim được bổ sung cho khu hệ chim Việt Nam trong thập niên 90 [8]. Tiếp đó, 52 loài mới được bổ sung cho danh lục chim Việt Nam, nâng tổng số loài chim ở Việt Nam lên 880 loài [9] 10 ‘Tap hop các kết quả nghiên cứu sau nhiều năm, vào năm 2007, Viện sinh thái và tải nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam đã xuất bản Ấn phẩm “Động vật chí” với 25 tập.
Trong tập 18, tác gid Lê Đình Thủy đã thống kê cả nước có khoảng 164 loài chim nước và di cư thuộc 68 họ, 5 bộ [40]. Trong đó, tác giả đã mô tả đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái học và vùng phân bố của các loài. Ngoài ra, trong sách còn có. các hình vẽ mẫu các loài chim nước giúp độc giả dé đàng nhận biết Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân đã xuất bản cuốn *Danh lục chim Việt Nam” [32], Trong tii liệu này, tác giả đã thống kê được 887 loài chim thuộc 88 họ của 20 bộ, bổ sung 59 loài cho "Danh lục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 [29].
Ngoài danh pháp khoa học, hiện trạng thì các tác giả cũng đề cập và bỗ sung những dẫn liệu. mới liên quan đến vùng phân bổ của các loài chim. Để phục vụ cho mục đích nhận dạng chim ngoài thực địa, gin đây các nhà nghiên cứu cũng đã xuất bản nhiều sách hướng dẫn thực địa về các loài chim. Cụ thé Robson đã xuất bản cuốn sách “Chim Đông Nam A”, trong đó.
tác gid mô tả đặc điểm nhận dang các loài chim cư trú ở Việt Nam [58, 59]. ‘Nam 2012, Lê Mạnh Hùng cũng đã xuất ban cuồn sách nhận dạng chim trong đồ có mô tả và ảnh màu của 532 loài chim [13]. Nghiên cứu nhằm thống kê thành phan loài đã được nhiều tác giả thực. Trong đó, công trình nghiên cứu chuyên sâu về một số nhóm loài chim riêng biệt của Lê Mạnh Hùng .