Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lâm học của nghiên cứu sinh Đỗ Xuân Trường với đề tài "Nghiên cứu tính đa dạng và một số đặc điểm sinh thái của Khu hệ chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh" được thực hiện tại Trường Đại học Lâm nghiệp (mã số chuyên ngành: 96 20 205), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Tiến Thịnh và GS.TS. Nguyễn Thế Nha, bảo vệ năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu của luận án xuất phát từ thực trạng khu hệ chim tại vùng địa lý sinh học Đông Bắc Việt Nam còn ít được nghiên cứu chuyên sâu. Các khu rừng đặc dụng trong vùng có số lượng tương đối ít, diện tích manh mún và chịu tác động tiêu cực từ hoạt động phát triển kinh tế nhanh tại các địa phương như Quảng Ninh và Hải Phòng. Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Đồng Sơn - Kỳ Thượng (thành lập năm 2002, diện tích 15.593,8 ha nằm trên địa bàn 5 xã thuộc huyện Hoành Bồ), các công trình trước đây chỉ dừng lại ở mức độ điều tra nhanh, quy mô nhỏ (công bố năm 2001 của Viện Điều tra Quy hoạch rừng; đánh giá nhanh năm 2011 của Trường Đại học Lâm nghiệp và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; luận văn năm 2016 của Vũ Văn Mỹ), chưa đánh giá toàn diện các mùa trong năm và chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh thái học của khu hệ chim.

Mục tiêu chung của luận án là góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu về khu hệ chim, phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Mục tiêu cụ thể được xác định gồm 5 nội dung:

  1. Xác định được thành phần loài chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng;
  2. Xác định được các loài chim quý hiếm và đánh giá được tình trạng của chúng tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng;
  3. Xác định được đặc điểm phân bố các loài chim theo sinh cảnh, đai cao và tầng tán ở Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng;
  4. Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đe dọa đến khu hệ chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng;
  5. Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý, bảo tồn phát triển bền vững khu hệ chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng.

Đối tượng nghiên cứu là các loài chim và sinh cảnh phân bố của chúng trong phạm vi ranh giới Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh. Phạm vi không gian nghiên cứu nằm trong tọa độ từ 107°00'30" đến 107°14'00" kinh độ Đông và từ 21°04'00" đến 21°11'00" vĩ độ Bắc. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được triển khai từ tháng 7 năm 2015 đến tháng 5 năm 2017, chia thành 4 đợt khảo sát chính (trung bình 60 ngày/đợt): đợt 1 (tháng 7 - 9/2015), đợt 2 (tháng 4 - 5/2016), đợt 3 (tháng 11 - 12/2016) và đợt 4 (tháng 3 - 5/2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu khu hệ chim theo các giai đoạn phát triển tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu:

  • Giai đoạn trước năm 1954: Các công trình thu thập mẫu vật đầu tiên của Oustalet (1899, 1903) tại Đông Dương; E. Boutan (1905) và phân tích của Ménégaux (1905); Kuroda (1917) phân tích mẫu vật của S. Tsuchiya (1911-1912) tại Yên Bái, Lào Cai ghi nhận 130 loài và phân loài; Kinnear (1929) nghiên cứu chim và trứng chim tại Tây Bắc (219 loài và phân loài); Delacour và Jabouille (1931) với công trình "Chim Đông Dương" mô tả 954 loài và phân loài; Milon (1942) tại Lạng Sơn (140 loài); Bourret (1941-1942) thu thập mẫu tại Lạng Sơn và vùng phụ cận.
  • Giai đoạn 1954 - 1975: Các nghiên cứu của Võ Quý, Trần Gia Huấn, Đỗ Ngọc Quang, Đào Văn Tiến; W. Fischer (1961, 1962); Lê Diên Dực (1964) nghiên cứu sinh thái Sáo mỏ ngà và Sáo mỏ vàng; Võ Quý (1971) với cuốn "Sinh học các loài chim thường gặp ở Việt Nam" mô tả gần 700 loài/phân loài, ghi nhận loài mới Gà lôi trắng (Lophura hatinhensis) và phân loài Hút mật tam đảo (Nectarinia jugularis tamdaoensis); Võ Quý (1972) nghiên cứu phân bố theo sinh cảnh ở miền Bắc.
  • Giai đoạn từ 1975 đến nay: Công trình "Chim Việt Nam, hình thái và phân loại" của Võ Quý (1975, 1981) mô tả trên 1.000 loài và phân loài; điều tra cơ bản động vật miền Bắc của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1981); nghiên cứu sinh thái chim rừng nhiệt đới của Stepanyan, Võ Quý và cộng sự (1985); Lê Vũ Khôi (1983); Võ Quý và Nguyễn Cử (1995) công bố danh lục 828 loài; Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải, Karen Phillipps (2000) mô tả khoảng 850 loài; Nguyễn Cử (2001, 2003) bổ sung danh lục lên 880 loài; Lê Đình Thủy (2007) trong Động vật chí Việt Nam (tập 18) thống kê 164 loài chim nước và di cư; Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) công bố 887 loài chim thuộc 88 họ, 20 bộ; tài liệu nhận dạng của Craig Robson (2000, 2008) và Lê Mạnh Hùng (2011, 2012).
  • Các nghiên cứu tại khu bảo vệ lân cận và vùng Đông Bắc: Đỗ Quang Huy và cộng sự (2012) tại Tây Yên Tử ghi nhận 77 loài; Trung tâm Môi trường và Phát triển Lâm nghiệp bền vững (2011) tại Vườn quốc gia Cát Bà ghi nhận 205 loài; Vũ Tiến Thịnh và cộng sự (2015) tại Thác Tiên - Đèo Gió (Hà Giang) ghi nhận 66 loài; John D. Pilgrim và cộng sự ghi nhận loài Vạc hoa tại xã Kỳ Thượng; Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - ĐHQGHN (2011) ghi nhận 174 loài chim tại Quảng Ninh. Tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Đông Bắc (1993) thống kê 135 loài; Viện Điều tra Quy hoạch rừng (2001) thống kê 154 loài; Đại học Lâm nghiệp và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (2011) ghi nhận 135 loài; Vũ Văn Mỹ (2016) ghi nhận 185 loài.
  • Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái: Mac Arthur và Mac Arthur (1961), Wiens (1992); Lê Đình Thủy (1995, 2012) nghiên cứu chim làm tổ tập đoàn; Nguyễn Lân Hùng Sơn (2007) nghiên cứu 10 loài chim đặc trưng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn; Ngô Xuân Tường (2012) tại Pù Mát; Vũ Tiến Thịnh và cộng sự (2012) nghiên cứu cấu trúc quần xã chim theo trạng thái rừng tại Tam Đảo.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là sự thiếu hụt các dẫn liệu điều tra hệ thống kéo dài qua các mùa, việc định lượng đặc điểm phân bố sinh thái học của khu hệ chim theo các trạng thái sinh cảnh rừng, cấu trúc thẳng đứng của tầng tán và đai cao địa hình tại trung tâm vùng Đông Bắc, đồng thời lượng hóa các yếu tố đe dọa bằng phương pháp chuẩn mực nhằm xác định các điểm nóng bảo tồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý thuyết cấu trúc sinh cảnh của Mac Arthur và Mac Arthur (1961) khẳng định tính đa dạng loài và đặc điểm phân bố phụ thuộc vào cấu trúc và tổ thành của sinh cảnh. Hệ thống phân chia cấu trúc thẳng đứng của tán rừng áp dụng theo Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan gồm 4 tầng: tầng vượt tán, tầng tán chính (tầng ưu thế sinh thái), tầng dưới tán và tầng thảm tươi. Tình trạng cư trú phân chia theo tài liệu của Craig Robson thành 3 nhóm: định cư, di cư và lang thang.

Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp định tính và định lượng bao gồm:

  • Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phỏng vấn bán định hướng có hỗ trợ hình ảnh màu trên 40 đối tượng, gồm 30 người dân địa phương có kinh nghiệm đi rừng, săn bắt và 10 cán bộ quản lý (Giám đốc KBT, Tổ trưởng Tổ Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng, 3 trạm trưởng trạm kiểm lâm, cùng lãnh đạo 5 xã trên địa bàn).
  • Phương pháp điều tra trên tuyến: Thiết lập 19 tuyến điều tra cố định có chiều dài từ 2,5 km đến 5,9 km cắt qua các dạng sinh cảnh đặc trưng của KBT. Quá trình điều tra thực hiện lặp lại tối thiểu 1 lần/tuyến trong 4 mùa. Dụng cụ quan sát là ống nhòm Nikon (10x42). Dữ liệu được ghi nhận vào Mẫu biểu 01 (tên loài, tọa độ, thời gian, số lượng, dấu hiệu nhận biết, khoảng cách, độ cao so với mặt đất, góc phương vị).
  • Phương pháp sử dụng lưới mờ: Sử dụng 4 dải lưới kích thước 9m x 3m (4 hàng túi, sản xuất tại Mỹ), thực hiện trong 28 ngày đặt lưới với tổng thời gian khoảng 220 giờ tại 8 vị trí tọa độ giao cắt sinh cảnh. Lưới được mở vào buổi sáng (từ 5h30) và buổi chiều (từ 14h00), đóng trước khi tối, kiểm tra định kỳ 10-20 phút/lần.
  • Phương pháp thu thập và giám định mẫu vật: Thu thập mẫu vật sống hoặc chết từ hiện trường và người dân, tổ chức giám định trực tiếp hoặc tham vấn chuyên gia phân loại học.

Phương pháp xử lý nội nghiệp:

  • Hệ thống phân loại học và danh pháp chim tuân thủ theo Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011).
  • Tiêu chí đánh giá loài quý hiếm căn cứ theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2019), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và Nghị định số 64/2019/NĐ-CP (sửa đổi Điều 7 Nghị định số 160/2013/NĐ-CP).
  • Tính toán chỉ số đa dạng sinh học bằng Microsoft Excel 10.0:
    • Chỉ số Simpson: $D = 1 - \sum p_i^2$
    • Chỉ số Shannon-Wiener: $H = -\sum p_i \ln(p_i)$ (trong đó $p_i$ là tỷ lệ cá thể của loài $i$ trên tổng số cá thể quan sát được trong sinh cảnh).
  • Phân tích không gian: Sử dụng MapInfo 10 để số hóa tọa độ tuyến và điểm ghi nhận; phần mềm ArcGIS trích xuất mô hình số độ cao (DEM) nhằm xác định phân bố của các loài chim theo đai cao.
  • Đánh giá mối đe dọa: Áp dụng phương pháp đánh giá suy giảm mối đe dọa (Threats Reduction Assessment - TRA) của Margoluis và Salafsky dựa trên 3 tiêu chí: Phạm vi (Area), Cường độ tác động (Intensity) và Mức độ cấp thiết (Urgency) để xếp hạng 6 nhóm tác động (săn bắt trái phép, khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác lâm sản ngoài gỗ, cháy rừng) và xác định các điểm nóng bảo tồn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về vai trò chỉ thị sinh thái của các loài chim, tổng kết lịch sử nghiên cứu chim tại Việt Nam và phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu.

Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng có địa hình núi cao chia cắt mạnh, sườn nghiêng với độ dốc trung bình 20-25°, nhiều nơi dốc 30-40° đến 50-60°. Khu vực có đỉnh Thiên Sơn cao 1090 m, đỉnh Am Váp cao 1051 m, đỉnh ngọn Mọ cao 852,5 m. Dãy núi chạy từ khe Ru qua đèo Kinh, dông Tra, Am Váp tới ngọn Mọ chia khu bảo tồn thành hai lưu vực: phía Bắc thoát nước về sông Ba Chẽ, phía Nam đổ về sông Mằn ra vịnh Hạ Long. Địa chất gồm đá trầm tích kỷ Trias thuộc kỷ Đệ Tứ; đất đai có 22 dạng đất thuộc 4 nhóm chính, chủ yếu là đất Feralit mùn trên núi cao trên 700 m và đất Feralit màu nâu vàng, vàng nhạt vùng đồi dưới 700 m. Khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa và á nhiệt đới núi thấp, nhiệt độ trung bình năm 23°C (cao nhất 41°C, thấp nhất 0°C), lượng mưa trung bình năm 2.400 mm (tập trung 80% vào tháng 7 và 8), độ ẩm trung bình 80%, chịu ảnh hưởng bão 2-3 cơn/năm và sương muối vào tháng 12 - tháng 1.

Về kinh tế - xã hội, khu vực gồm 5 xã với 8.504 nhân khẩu sinh sống tại 22 thôn bản (năm 2017). Dân tộc Dao chiếm 79,5%, còn lại là người Kinh, Sán Dìu, Hoa. Trong vùng lõi có 34 hộ dân sinh sống tại 4 xã: xã Đồng Sơn có 22 hộ (bản Khe Táo 13 hộ, bản Thục Kèn 9 hộ), xã Đồng Lâm có 10 hộ (bản Lựng Xanh), xã Kỳ Thượng có 01 hộ và xã Vũ Oai có 01 hộ. Tỷ lệ lao động sản xuất nông nghiệp chiếm 92,34%. Tập quán làm nương rẫy, khai thác gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ và săn bắt tạo áp lực trực tiếp lên sinh cảnh.

Bảng: Thống kê các lớp động vật tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng theo Phân viện ĐTQHR Đông Bắc (1993)

Lớp động vật Số bộ Số họ Số loài
Thú (Mammalia) 5 18 56
Chim (Aves) 15 40 135
Ếch nhái (Amphibia) 1 5 23
Bò sát (Reptilia) 3 11 30
Tổng cộng 24 74 244

Tác giả tổng hợp các tác động của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thành hai mặt đối ứng:

  • Địa hình chia cắt và tài nguyên rừng phong phú tạo sinh cảnh đa dạng và nguồn thức ăn cho chim, nhưng gây khó khăn cho tuần tra bảo vệ và thuận lợi cho việc lén lút khai thác, săn bắt.
  • Khí hậu có mùa khô kéo dài, độ ẩm giảm thấp (40-50%) và mùa đông giá rét, sương muối ảnh hưởng đến nguồn thức ăn côn trùng.
  • Sự tồn tại của 34 hộ dân vùng lõi cùng tập quán khai thác tài nguyên làm suy giảm chất lượng rừng, trong khi hạ tầng giao thông mở rộng tạo điều kiện cho giao thương nhưng cũng làm tăng nguy cơ vận chuyển động thực vật rừng trái phép.

Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết các nội dung nghiên cứu và quy trình kỹ thuật thu thập số liệu trên 19 tuyến điều tra thực địa.

Bảng: Hệ thống các tuyến điều tra chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng

Tuyến Tên tuyến Địa điểm Chiều dài (km) Tọa độ đầu tuyến Tọa độ cuối tuyến
Tuyến 1 Xã Hòa Bình Xã Hòa Bình 3,5 441709/2334878 441709/2334878
Tuyến 2 Khe nước - Khe Lương Xã Kỳ Thượng 4,5 436013/2336457 436387/2336589
Tuyến 3 Khe Quăn Xã Đồng Sơn 2,6 433914/2338746 434444/2338520
Tuyến 4 Khe Chó Xã Đồng Sơn 3,4 427825/2339863 427409/2340356
Tuyến 5 Khe Thố Xã Đồng Lâm 3,0 437137/2337040 437709/2338098
Tuyến 6 Bến Huyện Thác Xã Đồng Sơn 4,8 430291/2342601 432244/2341259
Tuyến 7 Khe Độc Xã Đồng Sơn 3,5 431330/2335848 432205/2336338
Tuyến 8 Kỳ Thượng - Đồng Sơn Xã Đồng Sơn 5,9 435160/2336399 437990/2337370
Tuyến 9 Khe Am Xã Đồng Lâm 3,7 432681/2340037 433436/2340636
Tuyến 10 Khe Sung Xã Đồng Sơn 4,1 429986/2340037 428784/2341517
Tuyến 11 Khe Hoa Xã Đồng Sơn 5,7 432205/2339991 430030/2340578
Tuyến 12 Phủ Liễn Xã Đồng Sơn 3,4 430030/2340578 428784/2341517
Tuyến 13 Khe Tre Xã Đồng Lâm 3,8 433436/2340636 435860/2340578
Tuyến 14 Khe Cát Xã Vũ Oai 2,9 442650/2335439 443428/2335198
Tuyến 15 Tuyến 15 Xã Đồng Sơn 2,8 434444/2338520 435160/2336399
Tuyến 16 Khe Vang Xã Vũ Oai 2,5 443428/2335198 444390/2335270
Tuyến 17 TK 59, Khe Táo Xã Đồng Sơn 4,6 428784/2341517 427409/2340356
Tuyến 18 Khe Táo Xã Đồng Sơn 3,4 427409/2340356 426812/2340038
Tuyến 19 Khe Tya Xã Vũ Oai 3,5 444390/2335270 445851/2335890

Chương này cũng xác định các tọa độ đặt lưới mờ chuyên dụng tại 8 vị trí: (441800/2334637), (0433914/2338746), (0427825/2339863), (437137/2337040), (430291/2342601), (431330/2335848), (429986/2340037) và (432205/2339991).

Cấu trúc tầng tán rừng được phân chia theo 4 cấp độ thẳng đứng:

  • Tầng vượt tán: Gồm các cây gỗ lớn nhô lên khỏi tầng tán chung của lâm phần, chủ yếu thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), không tạo thành tán khép kín liên tục.
  • Tầng tán chính (tầng ưu thế sinh thái): Tập hợp phần lớn các loài cây gỗ tham gia tạo vòm tán khép kín, quyết định cấu trúc sinh thái và điều kiện ánh sáng cho các tầng bên dưới.
  • Tầng dưới tán: Gồm các loài cây ưa bóng, cây tái sinh hoặc cây gỗ nhỏ sinh trưởng dưới tán chính.
  • Tầng thảm tươi: Khoảng không gian sát mặt đất (thông thường dưới 1 m), gồm thực vật họ Dương xỉ, họ Hòa thảo tầm thấp và lớp vật rơi rụng mục nát.

Quy trình đánh giá đe dọa bằng phương pháp TRA được cụ thể hóa thành hệ thống tính điểm cho 3 tiêu chí:

  • Phạm vi: Tỷ lệ diện tích KBT chịu ảnh hưởng (toàn bộ diện tích hay một phần nhỏ).
  • Cường độ tác động: Mức độ gây suy thoái ĐDSH (phá hủy hoàn toàn hay chỉ gây xáo trộn nhỏ).
  • Mức độ cấp thiết: Tính tức thời của mối đe dọa (đang diễn ra ngay tại thời điểm điều tra hay trong tương lai).

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương 3 được kết cấu thành 5 phần tương ứng với các mục tiêu của luận án:

  • 3.1. Thành phần loài chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng: Thiết lập danh lục các loài chim ghi nhận tại khu bảo tồn qua quan sát trực tiếp, bẫy lưới mờ, mẫu vật và kiểm chứng phỏng vấn; xác định cấu trúc phân loại học (số lượng và tỷ lệ các bộ, họ, giống); thống kê các loài mới bổ sung so với các nghiên cứu trước đây (so với 135 loài năm 1993, 154 loài năm 2001, 135 loài năm 2011 và 185 loài năm 2016); so sánh tính đa dạng thành phần loài với một số khu bảo vệ trong vùng Đông Bắc (Tây Yên Tử, Cát Bà, Thác Tiên - Đèo Gió); phân loại tình trạng cư trú theo 3 nhóm (định cư, di cư và lang thang).
  • 3.2. Tình trạng, phân bố các loài chim quý hiếm tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng: Lập danh sách các loài chim nguy cấp, quý, hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2019), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và Nghị định số 64/2019/NĐ-CP; phân tích tình trạng quần thể, mức độ đe dọa và xây dựng bản đồ phân bố các loài quý hiếm.
  • 3.3. Đặc điểm phân bố của các loài chim trong Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng: Mô tả cấu trúc các dạng sinh cảnh chính (các trạng thái rừng); phân tích sự phân bố của các loài chim theo từng sinh cảnh; tính toán các chỉ số đa dạng sinh học Simpson ($D$) và Shannon-Wiener ($H$) cho từng dạng sinh cảnh; phân tích mối quan hệ giữa số lượng loài với số lượng sinh cảnh sử dụng; phân bố số loài chim theo 4 tầng tán rừng (vượt tán, tán chính, dưới tán, thảm tươi); phân bố của các loài chim theo đai cao địa hình thông qua mô hình số độ cao (DEM) xử lý bằng ArcGIS.
  • 3.4. Các yếu tố đe dọa tới các loài chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng: Phân tích chi tiết 6 yếu tố đe dọa gồm săn bắt trái phép, khai thác gỗ trái phép, khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và cháy rừng; tổng hợp bảng xếp hạng các mối đe dọa theo điểm số phương pháp TRA; xác định tọa độ và phạm vi của 05 điểm nóng bảo tồn chim trong KBT dựa trên sự chồng lớp giữa vùng phân bố loài quý hiếm và khu vực chịu áp lực tác động mạnh của con người.
  • 3.5. Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển khu hệ chim Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng: Xây dựng 2 nhóm giải pháp đồng bộ: các giải pháp về tổ chức quản lý, kỹ thuật lâm sinh, bảo tồn sinh cảnh và các giải pháp về cơ chế chính sách, phát triển kinh tế vùng đệm nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã nêu các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn quản lý:

  • Về khoa học: Cung cấp bộ dữ liệu điều tra cập nhật và có hệ thống về thành phần loài chim, tính đa dạng khu hệ chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng sau các đợt khảo sát thực địa kéo dài liên tục từ năm 2015 đến 2017; xác định danh mục các loài chim quý hiếm được bảo vệ theo các khung phân hạng quốc gia và quốc tế kèm vị trí và sinh cảnh phân bố; làm rõ quy luật phân bố của khu hệ chim theo các trạng thái sinh cảnh rừng, cấu trúc thẳng đứng của tầng tán lâm phần và đai cao địa hình bằng ứng dụng mô hình số độ cao DEM và GIS.
  • Về thực tiễn: Lượng hóa và xếp hạng 6 yếu tố đe dọa trực tiếp và gián tiếp tới khu hệ chim theo phương pháp TRA; khoanh vùng được 05 điểm nóng ưu tiên bảo tồn chim trong KBT; đề xuất 2 nhóm giải pháp quản lý kỹ thuật và chính sách nhằm bảo tồn và phát triển bền vững khu hệ chim tại địa bàn nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án phản ánh các khó khăn và giới hạn trong quá trình thực hiện:

  • Địa hình chia cắt hiểm trở với độ dốc lớn (nhiều nơi từ 30° đến 60°) gây cản trở việc tiếp cận các khu vực rừng tự nhiên trên núi cao trong mùa mưa lũ;
  • Điều kiện thời tiết cực đoan (nhiệt độ mùa đông xuống thấp, sương muối, mưa lớn tập trung tháng 7-8) ảnh hưởng đến khả năng quan sát và hiệu suất bắt gặp chim bằng lưới mờ ngoài thực địa;
  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong ranh giới hành chính của Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng (15.593,8 ha); thông tin về một số loài chim lớn, quý hiếm ít bắt gặp còn phụ thuộc vào lời kể qua phỏng vấn người dân bản địa.

Hướng nghiên cứu tiếp bao gồm: Duy trì hoạt động giám sát dài hạn đối với các loài chim di cư qua các năm; tập trung điều tra chuyên sâu và liên tục tại 05 điểm nóng bảo tồn đã được khoanh vùng; nghiên cứu tập tính làm tổ, dinh dưỡng và sinh thái sinh sản của các loài chim nguy cấp đặc trưng cho vùng Đông Bắc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học động vật: tham khảo quy trình phối hợp phương pháp điều tra tuyến với bẫy bắt lưới mờ, kỹ thuật đánh giá phân bố chim theo cấu trúc thẳng đứng của tán rừng và ứng dụng mô hình số độ cao (DEM) kết hợp GIS trong nghiên cứu sinh thái.
  • Ban Quản lý Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh: sử dụng danh lục chim, danh mục loài quý hiếm và bản đồ 05 điểm nóng bảo tồn để bố trí lực lượng tuần tra, thiết lập các chốt kiểm soát lâm sản và lập kế hoạch giám sát đa dạng sinh học định kỳ.
  • Cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh: làm căn cứ khoa học triển khai thực hiện Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020-2030 theo Quyết định ngày 23/01/2018 của UBND tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng có những đặc điểm địa hình và thủy văn nổi bật nào ảnh hưởng đến khu hệ chim?
KBT nằm ở sườn Nam dãy núi cánh cung Đông Triều, có hướng chính Đông - Tây, đỉnh cao nhất là Thiên Sơn (1090 m), Am Váp (1051 m) và ngọn Mọ (852,5 m). Địa hình chia cắt mạnh bởi nhiều dông núi nhỏ, độ dốc trung bình 20-25°, nhiều nơi 30-40° đến 50-60°. Dãy núi chia KBT thành hai lưu vực thoát nước: phía Bắc đổ về sông Ba Chẽ, phía Nam đổ về sông Mằn ra vịnh Hạ Long. Địa hình dốc và hệ thống suối sâu tạo nên sự phân hóa sinh cảnh đa dạng nhưng gây trở ngại lớn cho công tác tuần tra bảo vệ rừng.

2. Những phương pháp thực địa nào đã được luận án sử dụng để điều tra khu hệ chim?
Tác giả đã kết hợp 4 phương pháp thực địa chính: phỏng vấn bán định hướng 40 đối tượng (30 người dân và 10 cán bộ quản lý); điều tra trên 19 tuyến cố định (chiều dài từ 2,5 km đến 5,9 km) lặp lại qua 4 mùa bằng ống nhòm Nikon 10x42; giăng 4 dải lưới mờ (9m x 3m, 4 hàng túi) trong 28 ngày với tổng thời gian khoảng 220 giờ tại 8 vị trí tọa độ; thu thập và giám định mẫu vật sống hoặc chết tại hiện trường và từ người dân bản địa.

3. Cấu trúc tầng tán rừng được phân chia theo tiêu chí nào để đánh giá phân bố của các loài chim?
Cấu trúc tầng tán được phân chia theo hệ thống của Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan thành 4 cấp độ thẳng đứng: tầng vượt tán (cây gỗ lớn nhô cao, chủ yếu thuộc họ Dầu Dipterocarpaceae), tầng tán chính hay tầng ưu thế sinh thái (vòm tán kín, quyết định cấu trúc lâm phần), tầng dưới tán (cây chịu bóng, cây tái sinh) và tầng thảm tươi (thực vật dương xỉ, hòa thảo sát mặt đất dưới 1 m và thảm mục).

4. Mối đe dọa đối với khu hệ chim tại khu vực nghiên cứu được đánh giá và xếp hạng bằng công cụ nào?
Luận án áp dụng phương pháp Đánh giá suy giảm mối đe dọa (Threats Reduction Assessment - TRA) của Margoluis và Salafsky. Phương pháp cho điểm dựa trên 3 tiêu chí: Phạm vi tác động, Cường độ tác động và Mức độ cấp thiết để xếp hạng 6 nhóm đe dọa (săn bắt trái phép, khai thác gỗ trái phép, khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cháy rừng) và xác định 05 điểm nóng bảo tồn.

5. Cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng lõi của Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng có quy mô ra sao và tạo áp lực gì lên tài nguyên?
Trong vùng lõi KBT có 34 hộ dân sinh sống tại 4 xã: xã Đồng Sơn có 22 hộ (bản Khe Táo: 13 hộ, bản Thục Kèn: 9 hộ), xã Đồng Lâm có 10 hộ (bản Lựng Xanh), xã Kỳ Thượng có 01 hộ và xã Vũ Oai có 01 hộ. Hoạt động của các hộ dân cùng người dân vùng đệm (92,34% làm nông nghiệp) tạo áp lực trực tiếp qua việc khai thác gỗ gia dụng, củi đốt, thu hái phong lan, nhựa trám, cây thuốc và săn bắt động vật hoang dã.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Xuân Trường là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thành phần loài và một số đặc điểm sinh thái của khu hệ chim tại Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2015-2017. Bằng việc kết hợp điều tra 19 tuyến thực địa, bẫy lưới mờ, phỏng vấn chuyên gia và ứng dụng GIS/DEM, luận án đã làm rõ sự phân bố của chim theo sinh cảnh, tầng tán, đai cao và định lượng 6 nhóm nguy cơ đe dọa theo phương pháp TRA. Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở dữ liệu khoa học về các loài quý hiếm và khoanh vùng 05 điểm nóng bảo tồn, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học tại vùng Đông Bắc Việt Nam.