Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu thực trên Thể giới Việc nghiên cứu hệ thực vật trên thé giới đã có từ lâu. Các tài liệu mô tả về hệ thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 300 năm trước công nguyên và ở ‘Trung quốc khoảng 200 năm trước công nguyên. Song những công trình có giá trị xuất hiện vào thé kỷ XIX-XX như, Thực vật chí Hongkong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Án Độ (1874).
Theo hướng nghiên cứu thống kê và mô tả thực vật phải ké đến các công trình như, Thực vật chí Đông Dương của Lecomte và cộng sự (1907-1952), Thực vật ‘chi Malasia (1948-1972), Thực vật chí Vân Nam (1979-1997). Kiến thức về cây co được loài người ghi chép và lưu lại. Tác phẩm ra đời sớm nhất có lẽ là của Aristote (384-322 trước công nguyên). Tiếp đó là tác phẩm lịch sử thực vật của Theophraste (khoảng 349 trước công nguyên) trong đó ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chi dẫn noi mọc và công dụng.
Một số tác giả nghiên cứu về hệ thực vật Trung quốc như, Dunn S, T. (1912) về thực vật Quảng Đông va Hang Kông, Chen Feng- hwai và Wu Te-lin (1987-2006) về thực vật chí Quảng Đông, Huang Tseng- chieng (1994-2003) đã cho ra đời bộ thực vật đài loan, Wu Zheng-yi Raven P. (1994-2007) với thực vật chí Trung Quốc, Wu Te-lin (2002) với danh lục các loài thực vật Hồng Kông. Mới đây nhất, năm 2008, Hu Shiu- yidg đế 86'§BỀ tiền Thực vật chí Hằng Kông.
Ở Nga, từ năm 1928-1932 được xem là giai đoạn mớ đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật.I cho rằng “Chỉ cẳn diéu tra trên một điện tích đủ lớn dé có thé bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng. không có sự phân hóa về mặt địa lý". Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể.I đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thẻ ở vùng nhiệt đới ẩm thường xanh là 1500-2000 loài. Engler (1882) đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật Thể giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 1 .000 loài, thực vật không có hoa có 30.
Riêng thực vật có hoa trên Thể giới. Van lop (1940) đưa ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300. Hai ving giàu có nhất thé giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài, 800 chỉ, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2.900 loài, 936 chi, 155 họ (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thin, 2008). “Takhtajan Viện sỹ thực vật, Aemenia đã có những đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật.
Trong cuỗn “Diversity and Classifeation of Flowering Plant” (1977), đã thông kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thể giới khoảng 260.000 loài vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16 phân lớp và 2 lớp. Trong đó Lớp Hai lá mim (Dicoryledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 45) 8 ho, 10.500 chỉ: không dưới 195.000 loài vào Lớp Một lá mim (Monocotyledonede) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chỉ và khoảng 65.000 loài Brummit (1992) chuyên gia của Phòng Bảo Tang Thực Vật Hoàng Gia Anh, trong cuốn “Vaséular plant families and genera” đã thống kê tiêu ban thực vật cao có mạch trên, é giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là, Khuyết lá thông (PHlôfophya), Thông đá (Lycopodiophyta), Cò thấp bút (Equisetophyta), Dương xi (Polypodiophyta), Hạt trần (Gynmospermae) và Hat kín (Angiospermae).Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454 chí va được chia ra hai lớp là, Lớp Hai lá mim (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chỉ, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocoryledoneae) bao gồm.762 chỉ, 97 họ, “Theo Phạm Hoàng Độ (1992 — 2003), hệ thực vật trên Thể giới như sau, Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, An Độ có khoảng 12,000 14.000 loài, Malaysia va Indonesia có khoảng 25.000 loài Lê Tran Chin và cộng sự (1999), đưa ra con lượng loài thực vật ở các vùng như sau, vùng hàn đới (đất mới, 208 loài), vùng ôn đới (Litva, 1.439 loài), cận nhiệt đới (Patextin, 2.334 loài, vùng nhiệt đới ẩm và nhiệt đới gió mùa (Philippin 8.099 loài, Bắc Việt Nam 5,609 loài), Trong phạm vi bắc bán „ tỷ lệ 10 họ giầu loài nhất của hệ thực vật giảm dẫn từ vùng bi cực đến vùng xích đạo (từ gần 75% đến khoảng 4 Trong khi đó số họ. chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dan từ vùng nhiệt đới dé vùng ôn đối, nhất là han đổi. (10%) Vườn Quốc Gia Doi Suthep-Pui ở miền Bắc Thái Lan, với diện tích 261km2 có 2.
Trong đó, rừng thường xanh có độ phong phú về loài ây có mạch cao nhất (930 loài) sơ với các loại rừng khác, rừng rụng lá tre nứa có 740 loài, rừng hỗn giao có 755 loài, rừng nửa rụng lá - Sồi có 533 loài, rừng thường xanh - Thông có 540 loài. Sau khi học thuyết tiến hóa của §. Darwin ra đời các cơ sở lý luận của địa lý thực vật cũng được hình thành và phát triển. Sau đó, trong nửa sau thé kỷ: XIX có nhiều công trình nghiên cứu địa lý thực vật xuất hiện và phát triển theo các xu hướng chính, Đánh giá số lượng thực vật, phân vùng dia lý thực vật.
Về xác định yếu tổ dia lý của từng loài có các tác giả như, Aliochin (1961), Schmidthusen (1976), P6es Tamas (1965). “Xác định các loài đặc hữu là vẫn để cũng rất quan trong khi phân tích đặc trưng phân bố địa lý của hệ thực vật. đặc hữu là những loài chỉ phân bổ ở một vùng (miễn, địa phương.) đủy nhất trên trái đất, không thé phát hiện ở bắt kỳ nơi nào khác Rõ ràng là với cách hiểu này khi xác định tính đặc hữu chi c¿ quan tâm đi không gian phân bé hiện tại của loài nà hoặc loài kia, chứ không cần biết nguồn gốc phát sinh của chúng. Nó khác với việc phân tích hệ thực vật về mặt di truyền là để xác định nguồn gốc phát sinh, từ đó khẳng định đây là loài bản địa hoặc di cu, Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan.
trọng hàng đầu trong công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dang sinh học. Việt Nam là một tong những trung tâm đa dạng sinh học lớn nhất của thể giới và đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tiễn hành nghiên cứu. Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam đã có từ lâu. Tuệ Tinh (1417) trong cuốn “Nam dược thần hiệu” đã mô tả tới 579 loài cây làm thuốc.
Tới thé ky 18, Hải Thượng Lan Ông Lê Hữu Trác đã xuất ban bộ sách lớn thứ: hai “Y tông Tâm tĩnh”. Bộ sách gồm 28 tập. 66 quyển đã mô tả khá chỉ tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh. Song việc điều tra nghiên cứu thực vật có tính uy mô lớn ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu vào thời Pháp thuộc.
trước hết phải kể (đến các công trình, *Thực vật chí Nam bậ” của Leureir, *Thực vat chí rừng Nam bộ” của các tác giả Piefe L. Một trong các công trình lớn nhất về quy mô. cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả pháp Lecomte et al. kết quả của nghiên cứu này là bộ *Thực vật chi đại cương Đông Dương”, theo Lecomte thi Đông dương có hơn 7000 loài.
Đây là bộ sách có giá trị và ý nghĩa lớn với các nhà Thực vật học, những người nghiên cứu thực vật Đông Dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nồi riêng. Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thông kê và bổ sung số loài ở miền Bac Việt Nam lên 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Duong, Thái Văn Trùng (1978) trong công trình "Thảm thực vật rừng Việt Nam” da thống kê ở khu hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao c6 mạch thuộc 1850 chỉ và 289 họ. Thái Văn Trừng đã khẳng định wu thé của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiểm 90,9%), 1727 chỉ (chiểm 93,4%) va 239 họ (chiếm 82,7%).
Đáng chú ý nhất là bộ "Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991- 1993) xuất bản tai Canada, bao gồm 3 tập (6 quyển). đã thống kê mô. tả được 10419 loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam. Trong hai năm 1999- 2000, ng đã chỉnh lý, bổ sung và tái bản lại tại Việt Nam.
Bộ sách ‘gdm 3 quyền, đã thống kê mô tả kèm hình vẽ của 11611 loài thuộc 3179 chi, 295 họ và 6 ngành Nam 1997, Nguyễn Nghĩa Thin cho xuất bản cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” đưa ra các thông tin về tỉnh hình đa dạng sinh học trên thé gi và Việt Nam. Ngoài ra tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có 10.580 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2.342 chi, 334 ho, 6 ngành. Trong, đó ngành Hạt kín có 9. Năm 1998, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời chơ Xuất bản chốt “Ba dạng thực vật vùng núi cao Sa Pa- Phan Si Pang”, đã thống kê được 2.024 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 771 chi, 200 họ và 6 ngành.
Năm 1999, trong cuỗn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, Lê Trần Chin đã thống kế được ở Việt Nam có 10.298 chỉ và 285 họ thuộc 7 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Khuyét lá thông (Psilotophyta) có 1 loài 1 chi, 1 ho, ngành Cỏ thấp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ, ngành Dương xi (Porypodiophyta) có 632 loài, 138 chỉ, 28 họ, ngành Hạt trần (Gymnospermac) có 52 loài, 22 chỉ, 8 họ, ngành Hạt kín có 9. Giai đoạn 2001 - 2005, tập thé các tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu tải nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội và Nguyễn Tiến Ban (2001, 2003, 2005, tập 1-3) trên cơ sở tập hợp các mẫu tiêu bản thực vật cùng với các mẫu tiêu bản đã có, đã xuất bản bộ *Danh lục các loài thực vật Việt Nam” gồm 3 tập. Bộ sách đã thống kê được đầy đủ nhất các loài thực vat có ở Việt Nam với tên khoa học cập nhật nhất.
Trong tài liệu này, đã công bố.238 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 2. Trong đó ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) có 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 35 loài, 5 chỉ, 3 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) có 2 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xi (Polypodiophyta) có 696 loài, 136 chỉ, 29 họ; ngành Hạt trần (Gymnospermae) có 69 loài, 22 chi, 9 ho: ngành Hạt kin (Angiospermae) có 10.