Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh thuộc tỉnh Hà Giang sở hữu diện tích rừng đặc dụng rộng lớn với 15.044,6 ha, trải dài trên địa bàn 10 xã vùng cao và là nơi cư trú của 24.679 nhân khẩu thuộc 11 dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, mô hình quản lý khép kín truyền thống mang tính áp đặt từ trên xuống đã bộc lộ nhiều xung đột gay gắt giữa mục tiêu bảo tồn thiên nhiên và nhu cầu sinh kế của cộng đồng địa phương. Thực tế cho thấy tỷ lệ hộ nghèo trong khu vực chiếm tới 37,85%, dẫn đến áp lực khai thác tài nguyên rừng diễn biến phức tạp với hơn 138 vụ vi phạm lâm luật và 30 vụ cháy rừng được ghi nhận trong giai đoạn 2002 - 2008.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xây dựng cơ sở khoa học, đánh giá tiềm năng và đề xuất 5 nguyên tắc cốt lõi cùng 4 nhóm giải pháp đồng quản lý phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh. Nghiên cứu được triển khai thực địa tập trung tại xã đại diện Cao Bồ thuộc huyện Vị Xuyên, hoàn thành vào năm 2009. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc chuyển đổi phương thức quản lý tài nguyên từ kiểm soát đơn thuần sang chia sẻ quyền hạn và lợi ích. Mô hình hướng tới mục tiêu giảm thiểu áp lực xâm hại tài nguyên, từng bước chuyển đổi nguồn thu nhập nương rẫy bình quân 4,72 triệu đồng/hộ/năm và khai thác gỗ 4,21 triệu đồng/hộ/năm sang các sinh kế bền vững dưới tán rừng, đồng thời gia tăng hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng đầu nguồn xung yếu của hệ thống sông Lô và sông Chảy.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên của Grazia Borrini-Feyerabend (1996, 2000) và khung phân tích hợp tác quản lý của Wild và Mutebi (1996). Đồng quản lý được xác định là một tiến trình thể chế hóa sự tham gia tự nguyện của các bên liên quan, thông qua đàm phán, thỏa thuận để cùng chia sẻ quyền ra quyết định, trách nhiệm và quyền hưởng lợi trên một vùng lãnh thổ xác định.

Bên cạnh đó, tác giả áp dụng mô hình liên kết bảo tồn và phát triển của Brandon và Nguyễn Văn Sản (1999) thông qua 3 cách tiếp cận chủ đạo: giải pháp thay thế sinh kế, phát triển kinh tế nâng cao mức sống và sự tham gia của người dân vào quy hoạch tài nguyên. Hệ thống khái niệm then chốt được vận dụng trong nghiên cứu bao gồm: đồng quản lý (Co-management), quản lý lâm nghiệp xã hội, tri thức bản địa (Indigenous knowledge), phân cấp quản lý rừng đặc dụng và cơ chế chia sẻ lợi ích. Nghiên cứu tích hợp 5 nguyên tắc đồng quản lý cơ bản bao gồm tính hợp pháp, tính tự nguyện, sự công bằng, hiệu quả kinh tế và tính bền vững sinh thái nhằm tạo dựng liên minh tự nguyện giữa Nhà nước và cộng đồng dân cư thôn bản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp hai nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hệ thống văn bản pháp quy, số liệu giao đất giao rừng của tỉnh Hà Giang, báo cáo kết quả rà soát 3 loại rừng theo Quyết định 2104/QĐ-UB, các báo cáo tổng kết của Dự án 661 và dữ liệu đánh giá đa dạng sinh học từ Sách Đỏ Việt Nam năm 2007.
  • Dữ liệu sơ cấp được điều tra thực địa liên tục trong 25 ngày phối hợp với các chuyên gia của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.

Cỡ mẫu nghiên cứu xã hội học gồm 90 hộ gia đình tại xã Cao Bồ, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling). Cụ thể, mẫu được phân bổ đồng đều cho 3 nhóm dân tộc chủ yếu gồm 30 hộ người Dao, 30 hộ người Tày và 30 hộ người Nùng, đại diện cho đầy đủ 3 phân nhóm kinh tế: khá, trung bình và nghèo. Ngoài ra, tác giả tổ chức các cuộc thảo luận nhóm trọng tâm gồm 8 đến 10 đại diện có uy tín tại 11 thôn bản.

Phương pháp phân tích kết hợp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) với các công cụ sơ đồ Venn, ma trận đánh giá lâm sản và ma trận phân tích xung đột. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan mức độ phụ thuộc sinh kế của từng nhóm dân tộc thiểu số vào rừng, đồng thời giải mã hệ thống tri thức bản địa để đưa vào chính sách quản lý. Số liệu định lượng được làm sạch và xử lý thống kê trên phần mềm Microsoft Excel, kết hợp phân tích định tính thể chế trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ 4 nhóm phát hiện then chốt về hiện trạng tài nguyên và áp lực sinh kế tại khu bảo tồn:

  • Đa dạng sinh học phong phú nhưng đứng trước nguy cơ suy thoái: Thống kê ghi nhận 796 loài thực vật bậc cao thuộc 162 họ (trong đó có 54 loài quý hiếm chiếm 7,0% tổng số loài, 49 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 như Pơ mu, Nghiến, Kim giao) và 213 loài động vật có xương sống trên cạn (với 20 loài thú quý hiếm chiếm 34,5% như Voọc mũi hếch, Gấu, Hổ).
  • Lực lượng quản lý chuyên trách thiếu hụt nghiêm trọng: Toàn bộ diện tích 15.044,6 ha chỉ do 16 cán bộ đảm nhiệm (6 cán bộ có trình độ đại học, chiếm 37,5%), tương đương định mức 1 cán bộ phụ trách 940 ha rừng. Con số này chỉ đáp ứng 53,3% so với định mức tiêu chuẩn của Nhà nước là 30 biên chế (1 biên chế/500 ha).
  • Tỷ lệ phụ thuộc sinh kế của cộng đồng bản địa ở mức rất cao: Kết quả khảo sát 90 hộ gia đình cho thấy 100% số hộ khai thác củi với khối lượng trung bình 16,39 m3/hộ/năm (người Dao tiêu thụ cao nhất với 17,11 m3/hộ/năm); 61,11% số hộ tham gia khai thác gỗ trái phép với khối lượng 1,49 m3/hộ/năm; 60,0% số hộ thực hiện đốt nương làm rẫy với diện tích trung bình 0,45 ha/hộ, mang lại thu nhập bình quân 4,72 triệu đồng/hộ/năm.
  • Xung đột sử dụng đất và vi phạm tài nguyên kéo dài: Toàn vùng ghi nhận 358,02 ha nương rẫy nằm xen cài trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái. Trong năm 2008, lực lượng chức năng đã phát hiện hơn 20 hộ phá gần 30 ha rừng tự nhiên để trồng thảo quả, thu giữ 250 bẫy thú và 5 súng săn tự chế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng xâm hại rừng bắt nguồn từ bài toán an ninh lương thực và thu nhập nghèo nàn của cư dân vùng đệm (bình quân lương thực chỉ đạt 431,05 kg/người/năm). Tập quán giữ lửa quanh năm đòi hỏi lượng củi đun từ 10 đến 11 kg/hộ/ngày. Thêm vào đó, việc chưa hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cắm mốc ranh giới thực địa khiến người dân không phân định được ranh giới vùng bảo vệ nghiêm ngặt.

Các dữ liệu nghiên cứu về sự phân hóa sinh kế có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thu nhập hộ gia đình và biểu đồ cột so sánh khối lượng khai thác củi, gỗ giữa 3 tộc người Dao, Tày, Nùng. Bên cạnh đó, sơ đồ Venn mô tả rõ nét khoảng cách tương tác giữa Ban quản lý khu bảo tồn, Hạt kiểm lâm với chính quyền cấp xã và trưởng thôn bản.

So sánh với các nghiên cứu đồng quản lý tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (Quảng Nam) và Vườn quốc gia Cát Tiên, kết quả tại Tây Côn Lĩnh cho thấy tính đặc thù cao của vùng núi đá phía Bắc: nếu không thừa nhận quyền hưởng dụng hợp pháp của người dân đối với cây thảo quả và chè Shan tuyết dưới tán rừng, chính sách bảo tồn sẽ tiếp tục thất bại trước sức ép mưu sinh thường nhật của cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các bất cập trong quản lý tài nguyên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Hoàn thiện phân định ranh giới và xác lập quyền quản lý đất lâm nghiệp: Tổ chức cắm mốc ranh giới thực địa cho 100% diện tích 15.044,6 ha khu bảo tồn và hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong giai đoạn 2010 - 2012. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang chủ trì, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm và UBND huyện Vị Xuyên.
  • Kiện toàn tổ chức Ban đồng quản lý cấp xã và phát triển lực lượng tuần tra cộng đồng: Thành lập Ban đồng quản lý cấp xã tại 10 xã vùng đệm, quy định tỷ lệ đại diện người dân địa phương đạt tối thiểu 50% cơ cấu thành viên. Mục tiêu giảm ít nhất 60% số vụ vi phạm lâm luật trong giai đoạn 2010 - 2013. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh phối hợp cùng UBND các xã vùng đệm.
  • Quy hoạch vùng sinh kế bền vững và phát triển chuỗi giá trị nông lâm sản: Tiến hành quy hoạch khoanh vùng canh tác thảo quả trong phân khu phục hồi sinh thái, chuyển giao kỹ thuật thâm canh chè Shan tuyết cổ thụ và hỗ trợ mô hình chăn nuôi nhốt chuồng, hướng tới mục tiêu tăng thu nhập hộ nghèo lên trên 25% vào năm 2015. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và cộng đồng dân cư.
  • Thiết lập cơ chế tài chính chia sẻ lợi ích và chi trả dịch vụ môi trường rừng: Trích từ 30% đến 50% nguồn thu từ phí dịch vụ môi trường rừng của các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Lô, sông Chảy và hoạt động du lịch sinh thái để tái đầu tư vào quỹ phát triển thôn bản đến năm 2014. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hà Giang điều phối cùng các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp tài liệu hướng dẫn quy trình 5 bước thiết lập mô hình đồng quản lý, phương pháp chuyển giao quyền tuần tra và quản lý 15.044,6 ha rừng cho 11 thôn bản vùng giáp ranh.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp cấp tỉnh: Sử dụng hệ số phân tích kinh tế - xã hội của 4.718 hộ gia đình vùng đệm làm luận cứ khoa học để xây dựng chính sách giao khoán rừng và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại các địa bàn miền núi phía Bắc.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Kế thừa bộ công cụ điều tra PRA, phương pháp tiếp cận mẫu phân tầng 90 hộ gia đình và khung lý thuyết đồng quản lý làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và ban quản lý dự án phát triển nông thôn: Áp dụng bài học thực tế từ xã Cao Bồ để thiết kế các chương trình sinh kế thay thế giảm áp lực khai thác củi, gỗ và nâng cao năng lực quản trị tài nguyên cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất của mô hình đồng quản lý rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh là gì? Đồng quản lý là cơ chế hợp tác chính thức giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng địa phương nhằm chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và quyền lợi đối với tài nguyên rừng. Tại Tây Côn Lĩnh, mô hình này trao quyền cho hơn 3.737 người dân xã Cao Bồ tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch bảo vệ 15.044,6 ha rừng đặc dụng.

Tại sao người dân địa phương vùng đệm Tây Côn Lĩnh lại phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên rừng? Tỷ lệ hộ nghèo trong khu vực chiếm tới 37,85%, trong khi đất nông nghiệp chỉ chiếm 13,6% tổng diện tích tự nhiên. Khảo sát 90 hộ dân cho thấy 100% hộ phải dựa vào rừng để lấy củi đun với khối lượng 16,39 m3/năm và 60% hộ đốt nương làm rẫy để tạo thu nhập 4,72 triệu đồng/hộ/năm nhằm trang trải nhu cầu lương thực thiết yếu.

Lực lượng quản lý rừng tại Tây Côn Lĩnh gặp khó khăn lớn nhất ở điểm nào? Toàn bộ diện tích 15.044,6 ha rừng trải dài trên địa hình dốc đứng chỉ có 16 cán bộ chuyên trách, bình quân 1 người quản lý 940 ha rừng. Con số này chỉ đạt 53,3% định mức biên chế chuẩn (1 người/500 ha), khiến việc kiểm soát 10 xã vùng biên giới gặp nhiều trở ngại lớn về nhân lực và phương tiện.

Giá trị đa dạng sinh học nổi bật nào cần được ưu tiên bảo tồn tại khu vực này? Khu hệ sinh thái Tây Côn Lĩnh bảo tồn 796 loài thực vật bậc cao với 54 loài quý hiếm (49 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam như Pơ mu, Nghiến) và 213 loài động vật có xương sống, trong đó có 20 loài thú quý hiếm (chiếm 34,5%) như Voọc mũi hếch, Hổ, Gấu phân bố tại đỉnh cao 2.416 m.

Làm thế nào để cân bằng giữa bảo tồn nghiêm ngặt và phát triển kinh tế cho người dân? Giải pháp cốt lõi là quy hoạch vùng canh tác thảo quả trong phân khu phục hồi sinh thái, thâm canh chè Shan tuyết và trích từ 30% đến 50% nguồn thu dịch vụ môi trường rừng để tái đầu tư cộng đồng, giúp nâng cao thu nhập hộ nghèo lên trên 25% mà không xâm hại vùng lõi.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc áp dụng mô hình đồng quản lý tại 15.044,6 ha rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh.
  • Định lượng hóa mức độ phụ thuộc sinh kế của 4.718 hộ dân vùng đệm qua các chỉ số khai thác gỗ, củi và canh tác nương rẫy của 3 tộc người Dao, Tày, Nùng.
  • Đề xuất hệ thống 5 nguyên tắc đồng quản lý then chốt gồm: Hợp pháp, Tự nguyện, Công bằng, Kinh tế và Bền vững.
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp phân định ranh giới, kiện toàn ban quản lý cấp xã, sinh kế thay thế và cơ chế chia sẻ tài chính.
  • Thiết lập lộ trình triển khai chi tiết theo các mốc thời gian cụ thể từ năm 2010 đến năm 2015 nhằm đảm bảo tính khả thi cao tại thực địa.

Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu là chuyển đổi tư duy quản lý lâm nghiệp từ ngăn cấm thụ động sang hợp tác chủ động, giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội. Các nhà quản lý tài nguyên và chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các nguyên tắc này để triển khai thí điểm mô hình đồng quản lý ngay trong kỳ kế hoạch tới.