chương 1 của Luật Lâm nghiệp 2017 cũng đã nêu rõ: “Dịch vụ môi trường rừng là hoạt động cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng”. Dịch vụ môi trường rừng là bộ phận quan trọng bậc nhất của dịch vụ môi trường. Môi trường rừng là môi trường do kết quả tác động của rừng tạo ra cho xã hội và tự nhiên. Nó là loại môi trường có tầm quan trọng không thể thay thế trong hệ sinh thái chung.
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái môi trƣờng và chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services - PES) và PES còn gọi là chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services) là công cụ kinh tế để những người sử dụng-được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái phải chi trả cho những người cung cấp -tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó. Đây là một hướng tiếp cận mới, được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và được coi là một cơ chế tài chính bền vững cho bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học và góp phần xóa đói, giảm nghèo. “Chi trả dịch vụ môi trường rừng” (PPES) là quan hệ tài chính tương đối mới trên thế giới, bắt nguồn từ quan điểm chính sách về “dịch vụ môi trường”.
Theo quan điểm này, các hệ sinh thái, trong đó có hệ sinh thái rừng, có vai trò cung cấp các dịch vụ có tác dụng không chỉ đảm bảo sự trong lành về môi trường mà còn đảm bảo sản xuất và sức khỏe của con người, thông qua các tác động tích cực và đa dạng như bảo vệ nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển du lịch, văn hóa và cải tạo đất…Ngày nay, trong khi nhu cầu về các dịch vụ này tăng, thì khả năng để cung cấp các dịch vụ đó của các hệ sinh thái ngày càng đứng trước nguy cơ bị suy giảm vì môi trường rừng đang dần bị suy thoái và ô nhiễm quá mức. Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới Luan van 5 điều đó là tăng nhu cầu phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số, sự thiếu hiểu biết về chu kỳ và chức năng của các hệ sinh thái và cả sự thiếu trách nhiệm của một số doanh nghiệp và cá nhân khi chỉ nghĩ tới việc tối đa hóa lợi nhuận trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài về bảo vệ môi trường. Cho đến nay, định nghĩa về chi trả DVMTR được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới chấp thuận là định nghĩa của Wunder Seven, 2005 (Payments for Environmental Services: Some Nuts and Bolts. CIFOR, Occasional Paper No.
Theo tác giả này, “ Chi trả dịch vụ môi trường rừng” là quá trình giao dịch tự nguyện được thực hiện bởi ít nhất một người mua và một người bán dịch vụ môi trường rừng, khi và chỉ khi người bán đảm bảo cung cấp dịch vụ môi trường rừng đó một cách hợp lý”. Chi trả DVMTR là một cách tiếp cận mới để khuyến khích chủ rừng, những người quản lý rừng cung cấp dịch vụ môi trường rừng tốt hơn. Chi trả DVMTR giúp đền bù cho những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng hoặc khuyến khích những người còn chưa quan tâm tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Theo khoản 3, Điều 3, Nghị định 99/2010/NĐ-CP cũng đã đưa ra cách hiểu về chi trả DVMTR: “Là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ”.
Như vậy, PES là một quan hệ tài chính mới cho một loại hình dịch vụ mà xác định rõ đối tượng cung cấp (người thụ hưởng) và đối tượng sử dụng (người chi trả). Việc chi trả này bao gồm các yếu tố cơ bản như đối tượng phải chi trả, đối tượng được chi trả, loại dịch vụ chi trả, hình thức và nguyên tắc chi trả… 6. Đối tƣợng tham gia. Đối tƣợng phải trả tiền DVMTR.
Các cơ sở sản xuất thủy điện; cung ứng nước sạch; cung ứng nước cho sản xuất công nghiệp… phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi Luan van 6 lắng lòng hồ, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện, nước sạch, nước sản xuất. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch. Các đối tượng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản được quy định tại khoản 3, Điều 4, Nghị định 99/2010/NĐ-CP. Đối tƣợng đƣợc hƣởng lợi từ chi trả DVMTR.
Các đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng gồm: Các chủ rừng là tổ chức được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được Nhà nước giao do Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận theo đề nghị của cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. + Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước (sau đây gọi chung là hộ nhận khoán); hợp đồng nhận khoán do bên giao khoán và bên nhận khoán lập, ký và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Các hình thức chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng. Có hai hình thức thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng: Luan van 7 Chi trả dịch vụ môi trường rừng trực tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ môi trường rừng (người phải chi trả) trả tiền trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường (người được chi trả).
Chi trả dịch vụ môi trường rừng gián tiếp: là việc người sử dụng dịch vụ môi trường rừng chi trả gián tiếp cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng thông qua một số tổ chức và thực hiện theo quy định. Nền tảng cơ bản của cơ chế chi trả dịch vụ môi trƣờng. Nguyên tắc ngƣời đƣợc hƣởng lợi phải trả tiền. Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra.
Một ví dụ cụ thể là, những người ở hạ lưu trước đây không phải trả tiền cho bất cứ lợi ích nào họ nhận được từ môi trường rừng thì nay họ sẽ chi trả một phần cho các lợi ích mà họ được hưởng thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu rừng đó và đem lại lợi ích cho dân vùng hạ lưu. Đây là một cách tiếp cận khá là mới của PES, coi DVMT là hàng hóa và nếu ta nhận được lợi ích từ hàng hóa thì hiển nhiên ta phải trả tiền để được tiêu dùng nó. Dựa trên cách tiếp cận này, các giá trị của DVMT, đặc biệt là DVMTR sẽ được đánh giá một cách chính xác hơn. Sự sẵn lòng chi trả (WTP).
WTP (Willingness to pay) là thước đo độ thỏa mãn, đồng thời là thước đo lợi ích và đường cầu thị trường tạ nên cơ sở xác định lợi ích đối với xã hội từ việc tiêu thụ hoặc bán một mặt hàng cụ thể. Nền tảng của PES chính là việc những người cung cấp DVMT sẽ nhận được một khoản tiền cho việc họ chấp nhận BVMT (tính điều kiện) và mức chi trả này phụ thuộc vào sự thỏa thuận với bên nhận được lợi ích từ môi trường. Luan van 8 II. Tổng quan các kết quả nghiên cứu và thực tiễn chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng trên thế giới.
Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước. Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng. Ở một số nước PES còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật. Hiện nay, PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội.
Sự phát triển nhanh chóng các DVMT đã dẫn đến việc thay đổi cách tiếp cận về bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc tạo ra các cơ chế chi trả và các thị trường non trẻ đối với các dịch vụ này. Giá trị kinh tế toàn cầu của các dịch vụ môi trường ước tính khoảng hàng nghìn tỷ USD, mặc dù các chi trả thực tế để bảo vệ các dịch vụ này đang phát triển không đồng đều trên toàn cầu. Hầu hết các thị trường và hệ thống chi trả đều đang phát triển ở Bắc Mỹ và châu Âu, vượt trội bởi các chi trả cho môi trường nông nghiệp đã đạt nhiều tỷ USD và tạo thuận lợi cho công tác bảo tồn công và tư nhân. Ở các nước đang phát triển, chỉ có một vài tỷ USD được sử dụng để chi trả cho bảo vệ đầu nguồn.
Trong khi ở châu Mỹ Latinh, PES đã được thử nghiệm rộng rãi bằng nhiều hệ thống khác nhau thì ở châu Á và châu Phi, sự phát triển PES vẫn còn hạn chế. Hiện tại, PES được xem như là một công cụ dựa vào thị trường cho dịch vụ hệ sinh thái.