Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có 164 khu rừng đặc dụng bảo tồn các hệ sinh thái tiêu biểu, tuy nhiên thách thức suy thoái tài nguyên vẫn diễn biến phức tạp do mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn và nhu cầu sinh kế của người dân địa phương. Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang được thành lập theo Quyết định số 117/QĐ-UB ngày 22/7/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích tự nhiên 16.466 ha. Khu bảo tồn trải dài trên địa bàn 4 xã gồm An Lạc, Thanh Sơn, Thanh Luận thuộc huyện Sơn Động và xã Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú với 16.018 ha rừng đặc trưng của vùng Đông Bắc, lưu giữ nguồn gen quý hiếm của 728 loài thực vật bậc cao và 226 loài động vật có xương sống.

Mặc dù có giá trị sinh thái đặc biệt quan trọng gắn liền với quần thể di tích danh thắng Yên Tử, khu bảo tồn đang chịu sức ép lớn từ hơn 2.644 hộ gia đình sống tại vùng đệm, nơi tỷ lệ hộ nghèo còn cao và tập quán canh tác nương rẫy vẫn phổ biến. Lực lượng kiểm lâm chuyên trách mỏng trong khi địa hình chia cắt hiểm trở với đỉnh cao 1.068 m khiến công tác quản lý bảo vệ rừng gặp vô vàn trở ngại.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tiềm năng đồng quản lý tài nguyên rừng, phân tích mức độ phụ thuộc sinh kế của cộng đồng bản địa và xác định các mối đe dọa sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử. Phạm vi nghiên cứu thực địa tập trung trọng điểm tại xã An Lạc trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2009. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực nhằm đề xuất bộ nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý khả thi, hướng tới việc bảo tồn đa dạng sinh học gắn với ổn định sinh kế cho hơn 12.000 nhân khẩu vùng đệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng và mô hình đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên của các học giả Borrini-Feyerabend cùng Andrew W. Ingle. Đồng quản lý được định nghĩa là sự thỏa thuận hợp tác chính thức hoặc phi chính thức giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng dân cư địa phương nhằm chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm cũng như quyền hưởng lợi đối với tài nguyên rừng. Khung lý thuyết tích hợp 4 khái niệm cốt lõi: quyền tiếp cận tài nguyên hợp pháp, cơ chế chia sẻ quyền ra quyết định, phát huy tri thức bản địa và phân chia lợi ích công bằng.

Về mặt pháp lý, đề tài vận dụng các quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Thông tư số 56/1999/TT-BNN-KL về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ rừng thôn bản, Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg về Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam và Điều 8(j) của Công ước Đa dạng sinh học năm 1994 về duy trì tri thức bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp giai đoạn 1998 - 2008 và điều tra thực địa có sự tham gia trong năm 2008 - 2009 tại xã An Lạc, địa bàn mang tính đại diện điển hình nhất cho khu bảo tồn. Cỡ mẫu điều tra xã hội học được thiết lập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên: tại mỗi thôn chọn 6 hộ gia đình đại diện cho 3 nhóm kinh tế gồm 2 hộ khá giả, 2 hộ trung bình và 2 hộ nghèo đói. Đồng thời, các buổi thảo luận nhóm tập trung được thực hiện với 10 - 15 đại diện cộng đồng mỗi thôn, bao gồm người cao tuổi, thanh niên, phụ nữ và các nhóm thợ săn, người thường xuyên khai thác lâm sản.

Các công cụ phân tích bao gồm phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn và Đánh giá nông thôn có sự tham gia nhằm xây dựng ma trận đánh giá tiềm năng các bên liên quan, ma trận xung đột tài nguyên và mức độ sẵn sàng hợp tác. Dữ liệu thực vật và động vật được kiểm chứng bổ sung qua điều tra theo tuyến kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia. Dữ liệu định lượng về cơ cấu thu nhập và độ che phủ rừng được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel để xác định mức độ tương quan giữa sinh kế và áp lực khai thác rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên giàu có với diện tích 16.018 ha, trữ lượng bình quân đạt 44 m3/ha. Thành phần thực vật ghi nhận 728 loài thuộc 189 chi và 86 họ, trong đó có nhiều loài nguy cấp như Pơ mu, Thông tre, Lim xanh, Sến mật. Hệ động vật có 226 loài thuộc 81 họ của 24 bộ, chiếm 22,76% số loài thú, 12% số loài chim và 40,2% số loài ếch nhái của cả nước. Đặc biệt, nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của hai loài đặc hữu có giá trị khoa học toàn cầu là Ếch Yên Tử (Odorrana yentuensis) và Cá cóc sần Bắc Giang (Tylototriton vietnamensis).

Thứ hai, mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của cộng đồng vùng đệm rất nghiêm trọng. Tại xã An Lạc, diện tích lúa nước chỉ đạt 45 ha với mức bình quân 2 sào/người, năng suất thấp 2,5 tấn/ha, dẫn đến việc người dân phải duy trì 1.387 ha đất nương rẫy luân canh xâm lấn vào rừng tự nhiên. Các sản phẩm khai thác trực tiếp từ rừng như gỗ, động vật hoang dã và lâm sản ngoài gỗ chiếm tỷ trọng 5/10 trong tổng nguồn thu nhập bằng tiền mặt của các hộ gia đình.

Thứ ba, các mối đe dọa sinh thái diễn ra với tần suất cao. Thống kê năm 2008 cho thấy toàn khu bảo tồn xảy ra 16 vụ cháy rừng gây ảnh hưởng 32 ha, trong đó thôn Đồng Khao là điểm nóng với 8 vụ cháy trên 15,7 ha. Tình trạng bẫy bắt động vật vẫn phổ biến với mật độ trên 500 bẫy/thôn trong bán kính 10 km, cùng 6 điểm kinh doanh gỗ trái phép hoạt động quanh địa bàn.

Thứ tư, năng lực của bộ máy quản lý chưa đáp ứng yêu cầu. Ban quản lý chỉ có 35 cán bộ quản lý địa bàn rộng hơn 16.000 ha chia làm 2 phân ban cách biệt. Trong đó, chỉ 40% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học (14 người), 40% trình độ trung cấp và 20% còn lại ở trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng suy thoái tài nguyên xuất phát từ cơ chế quản lý mệnh lệnh hành chính truyền thống từ trên xuống, tạo ra khoảng cách lớn giữa ban quản lý và cư dân địa phương. Khi người dân bị tước bỏ quyền tiếp cận tài nguyên hợp pháp mà không có sinh kế thay thế, họ buộc phải khai thác lậu. So sánh với các mô hình đồng quản lý tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh hay Vườn quốc gia Chư Yang Sin, việc trao quyền và gắn trách nhiệm cho cộng đồng là con đường duy nhất để giải quyết mâu thuẫn.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu thu nhập hộ gia đình và mức độ đe dọa tài nguyên có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng sinh kế (trồng trọt 56,57%, lâm sản 20-30%, ngành nghề khác 3-5%) và bảng ma trận không gian thể hiện 11 khoảnh rừng trọng điểm tại xã An Lạc có nguy cơ cháy cao. Điều này khẳng định tiềm năng hợp tác rất lớn từ tri thức bản địa của các dân tộc Tày, Nùng, Dao nếu được tổ chức thành các thiết chế tự quản chính thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện thể chế đồng quản lý cấp cơ sở. Ban quản lý khu bảo tồn cần phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã thành lập Hội đồng đồng quản lý rừng cấp xã và các Tổ tự quản thôn bản. Tiến hành rà soát, lồng ghép luật tục, lễ hội cúng rừng truyền thống của đồng bào Nùng vào quy ước bảo vệ rừng tại 11 thôn của xã An Lạc theo đúng tinh thần Thông tư 56/1999/TT-BNN-KL trong giai đoạn 2010 - 2012.

Thứ hai, mở rộng chính sách giao khoán rừng gắn liền với cơ chế hưởng lợi minh bạch. Cần nâng tổng diện tích giao khoán bảo vệ rừng từ 5.015,5 ha lên bao phủ toàn bộ 9.724 ha phân khu phục hồi sinh thái. Cho phép các hộ nhận khoán được thu hái có kiểm soát các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị như Sa nhân, Ba kích, Ngũ gia bì và chia sẻ trực tiếp 30% đến 50% nguồn thu từ phí dịch vụ môi trường rừng hoặc du lịch sinh thái Yên Tử.

Thứ ba, triển khai các mô hình chuyển đổi sinh kế nông - lâm kết hợp bền vững. Ngành nông nghiệp huyện Sơn Động cần đầu tư công trình thủy lợi để thâm canh lúa nước, nâng cao sản lượng lương thực vượt mốc 324,6 kg/người/năm, đồng thời chuyển đổi 1.387 ha nương rẫy dốc sang trồng rừng kinh tế và vườn cây ăn quả giá trị cao nhằm triệt tiêu nạn phá rừng làm rẫy.

Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi pháp luật và phòng chống cháy rừng. Ban quản lý cần chuẩn hóa chuyên môn cho 35 cán bộ, nâng tỷ lệ nhân sự có trình độ đại học lên trên 60% vào năm 2015. Thành lập lực lượng tuần tra liên ngành kiểm lâm - cộng đồng, trang bị hệ thống thông tin cảnh báo sớm nhằm giảm thiểu 70% số vụ cháy rừng và xóa bỏ hoàn toàn 6 tụ điểm buôn bán lâm sản trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý khu bảo tồn và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp tài liệu hướng dẫn thực tế để chuyển đổi từ phương thức tuần tra đơn phương sang mô hình phối hợp tuần tra với 11 tổ bảo vệ rừng thôn bản, giúp tối ưu hóa hiệu quả của 35 cán bộ trên địa bàn rộng lớn.

Nhóm cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh và huyện: Cung cấp cơ sở khoa học để Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang cùng Ủy ban nhân dân huyện Sơn Động điều chỉnh chính sách giao đất giao rừng, phân bổ ngân sách chương trình 135, 661 và xây dựng quy chế chia sẻ lợi ích tài nguyên đặc thù.

Nhóm giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu lâm nghiệp: Cung cấp nguồn dữ liệu thực địa chuẩn xác về 728 loài thực vật, 226 loài động vật quý hiếm (Cá cóc sần Bắc Giang, Ếch Yên Tử) và hệ thống phương pháp luận PRA, RRA ứng dụng trong đánh giá tài nguyên rừng nhiệt đới vùng Đông Bắc.

Nhóm các tổ chức phát triển và phi chính phủ: Cung cấp case study thực tiễn điển hình về bài toán sinh kế - bảo tồn tại vùng giáp ranh Đông Bắc để thiết kế các dự án viện trợ phát triển cộng đồng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái gắn với di sản văn hóa thời Trần.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình đồng quản lý rừng mang lại lợi ích cụ thể gì cho cộng đồng người dân địa phương tại Tây Yên Tử? Người dân được công nhận quyền tiếp cận và khai thác hợp pháp nguồn lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, nhận tiền công khoán bảo vệ rừng trên 5.015,5 ha và được hỗ trợ kỹ thuật thâm canh nông nghiệp, giúp ổn định nguồn thu tiền mặt chiếm 50% sinh kế hộ.

Điểm đặc biệt nhất về giá trị đa dạng sinh học của Tây Yên Tử so với các khu bảo tồn khác là gì? Khu bảo tồn lưu giữ 728 loài thực vật và 226 loài động vật đặc hữu, trong đó có 2 loài biểu tượng khoa học mới phát hiện là Ếch Yên Tử sống ở suối đá cao 300 - 500 m và Cá cóc sần Bắc Giang cực kỳ quý hiếm.

Tại sao tình trạng phá rừng làm nương rẫy tại xã An Lạc lại khó giải quyết dứt điểm? Do diện tích ruộng nước quá ít, chỉ đạt bình quân 2 sào/người với năng suất 2,5 tấn/ha, khiến 642 hộ dân phải duy trì 1.387 ha nương rẫy luân canh để bù đắp tình trạng thiếu đói lương thực trong các tháng giáp hạt.

Giải pháp then chốt nào giúp kiểm soát 16 vụ cháy rừng và nạn săn bắt động vật hoang dã hàng năm? Thiết lập 11 tổ xung kích phòng cháy chữa cháy rừng tại các thôn bản bám rừng, kết hợp đưa quy ước bảo vệ động vật vào hương ước thôn bản để giải tỏa trên 500 bẫy thú và triệt phá 6 điểm buôn bán gỗ lậu.

Mô hình đồng quản lý đề xuất có thể áp dụng cho các khu bảo tồn thiên nhiên khác không? Khung nguyên tắc và quy trình 4 bước hoàn toàn có thể nhân rộng tại các khu rừng đặc dụng có điều kiện tự nhiên, kinh tế tương đồng ở vùng Đông Bắc và miền núi phía Bắc như Tây Côn Lĩnh hay Pù Luông.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Hệ thống hóa hiện trạng tài nguyên thiên nhiên của 16.466 ha Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử với 728 loài thực vật bậc cao và 226 loài động vật có xương sống.
  • Chứng minh mối tương quan sâu sắc giữa sinh kế của 2.644 hộ dân vùng đệm với mức độ suy thoái rừng, trong đó sản phẩm rừng đóng góp 50% thu nhập tiền mặt.
  • Xác định các điểm nóng đe dọa sinh thái gồm 16 vụ cháy rừng năm 2008, 1.387 ha đất nương rẫy xâm hại và hơn 500 bẫy thú phân bố quanh mỗi thôn bản.
  • Đề xuất khung 4 giải pháp đồng quản lý toàn diện kết hợp giữa thể chế nhà nước và tri thức bản địa của các dân tộc Tày, Nùng, Dao.
  • Xây dựng lộ trình 5 năm triển khai giao khoán rừng gắn với chia sẻ lợi ích du lịch sinh thái và phát triển kinh tế lâm sản ngoài gỗ.

Các nhà quản lý lâm nghiệp, chính quyền địa phương và các chuyên gia bảo tồn cần sớm tham khảo, ứng dụng bộ giải pháp này vào thực tiễn quy hoạch để bảo vệ vẹn toàn hệ sinh thái Tây Yên Tử trong thời kỳ phát triển mới.