Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu thành phần loài và phân bố thú biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hòa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thành phần loài và phân bố thú biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hòa dựa trên mẫu vật tại bảo tàng và đền thờ cá ông.

Chuyên ngành

Động Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về thú biển

1.2. Vị trí phân loại của thú biển

1.3. Đặc điểm sinh học của thú biển

1.4. Tình hình nghiên cứu thú biển

1.5. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.6. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Tài liệu và thiết bị nghiên cứu

2.5. Tài liệu nghiên cứu

2.6. Thiết bị nghiên cứu

2.7. Phương pháp nghiên cứu

2.8. Phương pháp thu thập số liệu

2.9. Phương pháp định loại mẫu vật

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần loài thú biển trong khu vực nghiên cứu

3.2. Mẫu vật thu tại Quảng Ninh

3.3. Mẫu vật thu tại Hải Phòng

3.4. Mẫu vật thu tại Thanh Hóa

3.5. Mẫu vật thu tại Hà Tĩnh

3.6. Mẫu vật thu tại Quảng Bình

3.7. Mẫu vật thu tại Quảng Ngãi

3.8. Mẫu vật thu tại Khánh Hòa

3.9. Ghi nhận về thú biển ở một số vùng biển trong khu vực nghiên cứu

3.10. Mô tả đặc điểm các loài thú biển phát hiện trong khu vực nghiên cứu

3.11. Các loài quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa, tuyệt chủng

3.12. Khóa định loại các loài thú biển trong khu vực nghiên cứu

3.13. Khóa định loại dựa trên đặc điểm hình thái

3.14. Khóa định loại dựa trên đặc điểm bộ xương

4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thành phần loài thú biển tại Việt Nam

Nghiên cứu về thú biển Việt Nam đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong bảo tồn và quản lý tài nguyên biển. Việt Nam có bờ biển dài và đa dạng sinh học phong phú, nơi sinh sống của nhiều loài thú biển. Tuy nhiên, thông tin về thành phần loài và sự phân bố của chúng còn hạn chế. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài và chưa phản ánh đúng thực trạng hiện nay.

1.1. Đặc điểm sinh học của thú biển tại Việt Nam

Thú biển là nhóm động vật có vú, bao gồm cá voi, bò biển và hải cẩu. Chúng có những đặc điểm sinh học đặc trưng như khả năng thích nghi với môi trường biển, hình thái cơ thể và phương thức sinh sản. Các loài thú biển này không chỉ có giá trị sinh thái mà còn có giá trị kinh tế và văn hóa đối với cộng đồng ven biển.

1.2. Tình hình nghiên cứu thú biển trên thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xác định thành phần loài và phân bố của thú biển. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nghiên cứu về thú biển còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào một số loài phổ biến. Việc thiếu thông tin chi tiết về các loài và môi trường sống của chúng gây khó khăn trong công tác bảo tồn.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thú biển tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc nghiên cứu và bảo tồn thú biển, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt dữ liệu về thành phần loài và phân bố của chúng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng quản lý và bảo tồn các loài thú biển quý hiếm.

2.1. Thiếu dữ liệu và thông tin về thú biển

Nhiều loài thú biển chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến việc thiếu thông tin về số lượng, phân bố và tình trạng bảo tồn. Các tài liệu hiện có chủ yếu dựa vào các nghiên cứu cũ và không còn phù hợp với thực tế hiện nay.

2.2. Tác động của con người đến môi trường sống của thú biển

Hoạt động đánh bắt hải sản, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của thú biển. Những tác động này không chỉ làm giảm số lượng loài mà còn làm thay đổi cấu trúc sinh thái của các vùng biển.

III. Phương pháp nghiên cứu thành phần loài thú biển tại Việt Nam

Để nghiên cứu thành phần loài và phân bố của thú biển, các phương pháp điều tra khảo sát đã được áp dụng. Việc thu thập mẫu vật từ các bảo tàng và lăng thờ cá ông là một trong những phương pháp chính. Ngoài ra, phỏng vấn ngư dân và các nhà quản lý địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu vật

Mẫu vật được thu thập từ các bảo tàng và lăng thờ cá ông ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hòa. Việc này giúp xác định được danh sách thành phần loài và phân bố của chúng trong khu vực nghiên cứu.

3.2. Phỏng vấn và thu thập thông tin từ cộng đồng

Phỏng vấn ngư dân và các nhà quản lý địa phương giúp thu thập thông tin quý giá về sự xuất hiện và hành vi của thú biển trong tự nhiên. Những thông tin này bổ sung cho dữ liệu thu thập từ mẫu vật và giúp hiểu rõ hơn về tình trạng của các loài.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đã xác định được 11 loài thú biển trong khu vực nghiên cứu, trong đó có 2 loài mới được bổ sung vào danh sách thú biển Việt Nam. Những phát hiện này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên biển.

4.1. Danh sách thành phần loài thú biển

Danh sách thành phần loài thú biển được xác định dựa trên mẫu vật thu thập và thông tin từ cộng đồng. Việc bổ sung 2 loài mới cho danh sách thú biển Việt Nam là một thành công lớn trong nghiên cứu này.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào bảo tồn

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để xây dựng các chương trình bảo tồn và quản lý tài nguyên biển. Việc này không chỉ giúp bảo vệ các loài thú biển mà còn góp phần duy trì sự đa dạng sinh học trong khu vực.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu thú biển tại Việt Nam

Nghiên cứu về thú biển tại Việt Nam đang ở giai đoạn đầu và cần nhiều nỗ lực hơn nữa để thu thập dữ liệu và thông tin. Tương lai của nghiên cứu này phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các nhà khoa học, chính quyền địa phương và cộng đồng trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên biển.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu thú biển

Nghiên cứu thú biển không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững cho cộng đồng ven biển.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và bảo tồn

Cần có các chương trình nghiên cứu dài hạn và các chính sách bảo tồn hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại của các loài thú biển. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ cũng rất quan trọng trong việc thực hiện các chương trình này.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus bước đầu nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của thú biển dựa trên bộ sưu tập mẫu vật được lưu trữ tại các bảo tàng và đền thờ cá ông ở các địa phương ven biển từ quảng ninh tới khánh hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Thú biển là nhóm động vật thuộc lớp thú(cá voi, bò biển, hải cẩu …) nhƣng có đời sống gắn liền với biển.Trên thế giới hiện nay các nhà khoa học đã mô tả và xác địnhđƣợc khoảng 128 loài, chúng phân bố ở hầu hết các vùng biển và đại dƣơng, một số loài cá heo còn phân bố trong các con sông lớn nhƣ sông Amazon, sông Hằng, sông MêKông ….Vùng biển của Việt Nam đƣợc ghi nhận lànơi sinh sống của rất nhiềuloài thú biển, chúng đƣợc các ngƣ dânbắt gặp thƣờng xuyên ngoài tự nhiên khi đi đánh bắt hải sản. Ngoài ra, mẫu vật của chúng cũng đƣợc tìm thấy trong các bảo tàng chuyên ngành, các lăng thờ cúng cá ông do ngƣ dân xây dựng ở các địa phƣơng ven biển. Trong những năm gần đây nhờ sự phát triển của các phƣơng tiện thông tin đại chúng,các thông tin về cá voi, cá heo, hải cẩu bị chết trôi dạt vào bờ đƣợc cập nhật thƣờng xuyên hơn.Tuy nhiên,nhóm đối tƣợng thú biển ở Việt Nam còn chƣa đƣợc quan tâm và nghiên cứu đầy đủ, các dẫn liệu ban đầu về thành phần loài, sự phân bố và số lƣợng của mỗi loài thú biển ở Việt Nam là rất ít, phần lớn do các nhà khoa học nƣớc ngoài cung cấp từ những năm 1990.Các thông tin này ngày nay đã không còn đúng với thực tế về hiện trạng thú biển của nƣớc ta. Các nghiên cứu mớivề thú biển ở Việt Nam là hầu nhƣ không có, dẫn tới những khó khăn trong công tác quản lý và bảo tồn nhóm động vật biển quý hiếm này.

Chính vì vậy đề tài “Bước đầu nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của thú biển dựa trên bộ sưu tập mẫu vật được lưu trữ tại các bảo tàng và đền thờ cá ông ở các địa phương ven biển từ Quảng Ninh tới Khánh Hòa” đƣợc thực hiện với các mục tiêu và nhiệm vụcụ thể sau: Mục tiêu:  Nắm đƣợc các phƣơng pháp điều tra khảo sát,nghiên cứu về thú biển.  Có đƣợc bộ số liệu ban đầu về thành phần loài, sự phân bố của thú biển ở khu vực ven bờ từ Quảng Ninh tới Khánh Hòa. Nhiệm vụ: 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Thu thập và xử lý tất cả các tài liệu lịch sử đã xuất bản có liên quan tới vấn đề nghiên cứu (các công bố khoa học, các thông tin xã hội, văn bản pháp luật …).  Đánh giá các mẫu vật, tài liệu nghiên cứu trong hệ thống các bảo tàng chuyên ngành và hệ thống cáclăng thờ cá ông đƣợc ngƣ dân xây dựng ở các địa phƣơng ven biển trong khu vực nghiên cứu.

 Tiến hành điều tra khảo sát ngoài thực địa thông qua việc phỏng vấn thu thập thông tin từ các ngƣ dân, các nhà quản lý địa phƣơng, các cộng đồng ven biển tại các khu vực nghiên cứu.  Phân tích mẫu vật dựa trên phƣơng pháp hình thái học dựa vào các đặc điểm hình thái của cơ thể và cấu trúc của bộ xƣơng để xác định tên loài. Các hoạt động triển khai:  Để thực hiện đƣợc các nhiệm vụ nêu trên, học viêncùng với chuyên gia thú biển của Bảo tàng Tự nhiên Quốc gia Đài Loan đã tiến hành khảo sát một hệ thống các bảo tàng chuyên ngành, lăng thờ cá ông do ngƣời dân lập ra ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hòa trong khuôn khổ đề tài cấp cơ sở Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển năm 2012.  Kết hợp với các đề tài, dự án do Viện Tài nguyên và Môi trƣờng biển chủ trì, các thông tin truyền thông đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình …) học viên đã thu thêm những thông tin và tƣ liệu liên quan tới thú biển trong khu vực nghiên cứu.

 Tranh thủ sự giúp đỡ từ phía đối tác Đài Loan học viên đƣợc trực tiếp sang học tập phƣơng pháp nghiên cứu thú biển dựa trên các bộ mẫu chuẩn và trang thiết bị thí nghiệm sẵn có của Bảo tàng Tự nhiên Quốc gia Đài Loan. Các kết quả chính đạt đƣợc: 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Dựa trên những mẫu vật trong hệ thốngbảo tàng chuyên ngành, các lăng thờ cá ông, các thông tin do các cơ quan chức năng địa phƣơng cung cấp đã xác định đƣợc danh sách thành phần loài thú biển dải ven bờ khu vực nghiên cứu gồm 11 loài. Trong đó đã bổ sung đƣợc 2 loài mới cho danh lục thú biển Việt Nam đó là: loài Cá voi xám (Eschrichtius robustus) và loài Cá voi omura (Balaenoptera omurai). Cả hai loài mới ghi nhận này đã đƣợc các chuyên gia nƣớc ngoài phối hợp nghiên cứu và khẳng định.

 Dựa vào kết quả phân tích mẫu vật, các thông tin thu thập đƣợc từ các phiếu phỏng vấn đã xác định đƣợc phạm vi, vùng phân bố của các loài thú biển thƣờng gặp ở dải ven bờ khu vực nghiên cứu. Dựa vào vật mẫu ở Bảo tàng Lịch sử tỉnh Quảng Ninh đã bổ sung đƣợc phạm vi phân bố của loài Cá voi xám mở rộng sang cả vùng biển bờ tây vịnh Bắc bộ. So với các tài liệu của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế IUCN đã công bố trƣớc đây thì phạm vi phân bố của loài này chỉ đến đảo Hải Nam của Trung Quốc.  Đã công bố đƣợc 03 bài báo đăng hoặc đã đƣợc chấp nhận cho đăng có liên quan tới nội dung của luận văn: 01 bài đăng trên Tuyển tập Tài nguyên và Môi trƣờng biển, 01 bài đăng trên Kỷ yếu Hội nghị Toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ V, 01 bài đăng trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về thú biển 1. Vị trí phân loại của thú biển Giới: Động vật (Animalia) Ngành:Có dây sống (Chordata) Lớp:Thú (Mammalia) - Bộ Cá voi (Cetacea) Bộ:Bao gồm ba bộ: - Bộ Bò nƣớc (Serenia) - Bộ Ăn thịt (Carnivora) Thú biển bao gồm tất cả các loài thú có đời sống gắn liền với biển. Chúng đƣợc xếp vào 3 bộ: Bộ Cá voi, Bộ Bò nƣớc và Bộ Ăn thịt.

Hiện nay trên thế giới các nhà khoa học đã mô tả và xác định đƣợc khoảng 128 loài trong đó có 84 loài thuộc Bộ Cá voi, 5 loài thuộc Bộ Bò nƣớc và 39 loàithuộc Bộ Ăn thịt [9].Dƣới đây là phân loại các họ thú biển theo tác giả Hadoram Shirihai [9]. Bộ Phân bộ Họ Banaenidae (có 4 loài) Mysticeti Neobalaenidae (có 1 loài) (Cá voi tấm sừng hàm) Balaenopteriadae (có 9 loài) Eschrichtiidae (có 1 loài) Physeteridae (có 1 loài) Cetacea Kogiidae (có 2 loài) (Cá voi) Monodontidae (có 2 loài) Ziphiidae (có 21 loài) Odontoceti Delphinidae (có 34 loài) (Cá voi có răng) Phocoenidae (có 7 loài Platanistidae (có 1 loài) Iniidae (có 1 loài) Pontoporiidae (có 1 loài) 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Serenia Trichechidae (có 3 loài) (Bò nƣớc) Dugongidae (có 2 loài) Otariidae (có 16 loài) Pinnipedia Odobenidae (có 1 loài) (Chân màng) Carnivora Phocidae (có 19 loài) (Ăn thịt) Fissipedia Mustelidae (có 2 loài) (Chân chẽ) Ursidae (có 1 loài) Một danh sách các loài thú biển trên thế giới theo tác giảHadoram Shirihai đƣợc liệt kê trong phụ lục 1 của tài liệu này. Đặc điểm sinh học của thú biển Thú biển là nhóm động vật có vú, đẻ con và nuôi con bằng sữa nhƣng đời sống lại gắn liền với biển. Chính vì vậy thú biển mang một số đặc điểm khác so với các loài thú trên cạn.

a) Đặc điểm hình thái cơ thể Các loài thú thuộc Bộ Cá voi đã thích nghi hoàn toàn với cuộc sống dƣới nƣớc vào khoảng 50 triệu năm về trƣớc, trong thời gian này động vật dạng cá voi đã mất dần đi những thuộc tính phù hợp cho sự sinh tồn trên đất liền và thu đƣợc những đặc tính thích nghi với cuộc sống ở dƣới nƣớc. Chi sau biến mất, cơ thể của chúng trở lên thon và thuôn hơn, hình dạng cho phép chúng có thể di chuyển nhanh hơn trong nƣớc. Đuôi nguyên thủy của chúng đƣợc chuyển thành một cặp thùy đuôi có tác dụng dẫn lái khi di chuyển. Chi trƣớc của chúng biến thành các tay chèo rất hiệu quả khi di chuyển trong môi trƣớc nƣớc và làm cân bằng kích thƣớc to lớn của chúng (hình 1.

Do không còn nhu cầu giữ ấm từ bên ngoài lên lớp lông của các loài cá voi cũng bị tiêu biến giúp giảm lực ma sát khi di chuyển trong nƣớc. Tuy sống ở dƣới nƣớc nhƣng là những loài thú thực sự, các loài cá voi cũng hô hấp bằng phổi, quá trình trao đổi khí đƣợc thực hiện thông qua lỗ thở trên đỉnh đầu. Khi cá voi thở ra do không khí cũ đƣợc làm ấm từ phổi tiếp xúc với không khí lạnh hơn ở 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trƣờng bên ngoài tạo ra một cột nƣớc tựa nhƣ khói. Cột nƣớc này có hình dạng, độ cao, góc phun đặc trƣng cho từng loài.

Vì thế, các loài cá voi có thể đƣợc những thợ săn cá voi hay những ngƣời theo dõi cá voi giàu kinh nghiệm nhận dạng từ xa bằng cách sử dụng đặc trƣng này (hình 1. Do sống dƣới biển mặn thị giác của cá voi có các tuyến tiết ra chất nhờn giúp bảo vệ mắt trƣớc nƣớc mặn của biển cả. Cá voi cũng có thủy tinh thể gần nhƣ hình cầu trong mắt, có hiệu quả tập trung cao nhất đối với cƣờng độ ánh sáng yếu trong vùng nƣớc sâu. Thị giác của các loài cá voi nói chung là kém (ngoại trừ một số loài cá heo).

Giống nhƣ mắt, tai của cá voi cũng nhỏ, cuộc sống dƣới nƣớc đã làm tiêu giảm các tai ngoài của chúng, mà chức năng của nó là thu thập các sóng âm thanh trong không gian. Tuy nhiên, do nƣớc là môi trƣờng truyền âm tốt hơn nhiều so với không khí, nên tai ngoài không còn cần thiết nữa. Nó chỉ còn là một lỗ nhỏ trên da, ngay phía sau các mắt[12]. Hình dạng ngoài của cá voi (a – Phân bộ cá voi tấm lược sừng, b – Phân bộ cá voi có răng) (theo Mark Carwardine, 2005) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Hình dạng cột nƣớc docác loài cá voi tạo ra (theo Mark Carwardine, 2005) Các loài thú thuộc Bộ Bò biểncũngthích nghi hoàn toàn với cuộc sống dƣới nƣớc nhƣng vẫn giữ nhiều nét của thú ở cạn. Mình thon dài, cổ không rõ, chi trƣớc biến thành tay chèo nhƣng ngón tay vẫn còn di tích của móng guốccó tác dụng nhƣ một giá đỡ khi kiếm ăn. Chi sau thiếu, đuôi rộng hình vây cá nằm ngang. Thân phủ lông thƣa (hình 1.

Bò biển là nhóm thú biển chủ yếu ăn thực vật(một cá thể dugong có thể ăn khoảng 25 kg cỏ biển/ngày).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ