Tổng quan nghiên cứu

Trên thế giới hiện có khoảng 2.900 loài mối thuộc 286 giống phân bố chủ yếu ở vành đai nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Việt Nam, các công bố khoa học đã ghi nhận 141 loài thuộc 38 giống của 8 họ côn trùng cánh đều (Isoptera). Sau đợt điều chỉnh địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, diện tích Thủ đô Hà Nội được mở rộng lên 3.324,92 km2, sở hữu cấu trúc địa hình đa dạng bao gồm cả vùng núi cao trên 1.200 m, vùng đồi gò và đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sự biến đổi sinh cảnh sâu sắc này đòi hỏi một hệ thống dữ liệu toàn diện về đa dạng sinh thái côn trùng, thay vì các khảo sát cục bộ trước đây vốn chỉ tập trung vào việc diệt trừ mối phá hoại công trình kiến trúc hoặc thân đê nội thành.

Luận văn thạc sĩ sinh học chuyên ngành Động vật học thực hiện bởi học viên Nguyễn Hải Huyền dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Quảng đã giải quyết trọn vẹn 3 mục tiêu trọng tâm:

  1. Điều tra, phân tích và định danh chính xác thành phần loài mối tại các khu vực đại diện của Hà Nội.
  2. Xác định quy luật phân bố của các quần xã mối theo 3 vùng cảnh quan sinh thái đặc thù (vùng núi, vùng đồi và vùng đồng bằng).
  3. Đánh giá tiềm năng sử dụng cấu trúc thành phần loài và nhóm chức năng của mối làm sinh vật chỉ thị cho mức độ tác động của con người lên thảm thực vật.

Nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 11 năm 2012 tại Vườn Quốc gia Ba Vì, vùng đồi núi Luốt (Xuân Mai, Chương Mỹ) và các khu vực nội ngoại thành Hà Nội. Công trình đã phân tích 347 mẫu vật thực địa, ghi nhận 63 loài mối (chiếm 62,4% tổng số loài ghi nhận trong Động vật chí Việt Nam năm 2007) và bổ sung 10 loài mới cho khu hệ mối Việt Nam. Kết quả này tạo lập cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý dịch hại bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sinh thái học quần xã côn trùng và mô hình phân tầng sinh cảnh nhiệt đới để phân tích sự tương tác giữa điều kiện địa hình, độ che phủ thực vật và cấu trúc quần thể côn trùng xã hội. Bên cạnh đó, mô hình phân loại nhóm chức năng dinh dưỡng (Feeding groups) được áp dụng nhằm phân chia các giống mối theo nguồn thức ăn: tiêu hóa gỗ khô, gỗ mục, mùn bã thực vật và đất mùn giàu chất hữu cơ.

Hệ thống lý thuyết của luận văn xoay quanh 4 khái niệm khoa học cốt lõi:

  • Côn trùng xã hội có cấu trúc phân hóa đẳng cấp nghiêm ngặt (mối thợ, mối lính, mối sinh sản), cộng sinh mật thiết với vi sinh vật đường ruột và nấm biểu sinh để chuyển hóa cellulose.
  • Đa dạng sinh học và độ phong phú tương đối được lượng hóa qua các chỉ số sinh thái học tiêu chuẩn.
  • Chỉ số tương đồng sinh học liên vùng (Bray-Curtis) nhằm xác định mức độ gần gũi giữa các hệ sinh thái.
  • Sinh vật chỉ thị môi trường (Bio-indicators) đánh giá mức độ suy thoái hoặc phục hồi của thảm phủ thực vật tự nhiên.

Hệ thống phân loại đối chiếu dựa trên 8 họ mối toàn cầu và 101 loài mối được chuẩn hóa trong cuốn Động vật chí Việt Nam tập 15, kết hợp với các khóa định loại chuyên sâu khu vực Đông Dương và Đông Nam Á.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 347 mẫu vật thu thập trực tiếp trong 2 năm nghiên cứu kết hợp bộ mẫu lưu trữ tại Bộ môn Động vật không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.

Quy trình chọn mẫu và thu thập hiện trường được chia thành 2 phương pháp bổ trợ:

  • Phương pháp thu mẫu định tính: Tiến hành khảo sát theo tuyến dài từ 1 đến 3 km qua 4 đai độ cao (dưới 400 m, từ 400 đến 700 m, từ 700 đến 1.000 m và trên 1.000 m) tại các kiểu sinh cảnh rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, rừng trồng, trảng cây bụi, công viên và cây xanh đường phố. Người nghiên cứu tập trung thu thập đầy đủ các cá thể mối lính, mối thợ, ghi chép tọa độ GPS và bảo quản mẫu trong cồn 70%.
  • Phương pháp thu mẫu định lượng: Thiết lập theo quy chuẩn quốc tế tại 4 sinh cảnh ở núi Luốt (rừng trồng hỗn tạp, rừng trồng thuần loại, trảng cỏ, đồi chè). Mỗi sinh cảnh bố trí một đai tiêu chuẩn kích thước 100 m x 2 m, chia thành 20 ô nhỏ (5 m x 2 m, diện tích 10 m2/ô). Thời gian thu mẫu chuẩn hóa là 30 phút cho nhóm 2 người hoặc 60 phút cho 1 người trên mỗi ô, rà soát từ độ sâu tầng đất mặt 5 cm đến độ cao 2 m trên thân cây.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp giữa tuyến định tính và đai ô định lượng 100 m x 2 m giúp triệt tiêu sai số tập trung quần thể của côn trùng xã hội, đảm bảo tính đại diện thống kê cao. Dữ liệu hình thái được đo đạc chính xác bằng kính lúp hai mắt có trắc vi thị kính theo tiêu chuẩn của Roonwal. Các chỉ số đa dạng loài Shannon-Wiener, độ phong phú Margalef và ma trận tương đồng Bray-Curtis được tính toán qua phần mềm Primer V6 và Microsoft Excel 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình định loại 347 mẫu vật đã xác định được 63 loài mối thuộc 21 giống, 7 phân họ và 3 họ phân bố tại Hà Nội:

  • Họ Mối đất (Termitidae) chiếm ưu thế tuyệt đối về cấu trúc phân loại với 42 loài (chiếm 66,67% tổng số loài) và 16 giống (chiếm 76,19% tổng số giống). Họ Mối gỗ ẩm (Rhinotermitidae) đứng thứ hai với 14 loài (chiếm 22,22%) thuộc 2 giống. Họ Mối gỗ khô (Kalotermitidae) có số lượng ít nhất với 7 loài (chiếm 11,11%) thuộc 3 giống.
  • Về cấp độ phân họ, phân họ Macrotermitinae dẫn đầu về số loài với 20 loài (chiếm 31,75%), tiếp theo là Termitinae và Nasutitermitinae cùng có 10 loài (chiếm 15,87%). Tuy nhiên, Nasutitermitinae lại là phân họ phong phú nhất về số giống với 6 giống (chiếm 28,57%). Hai giống có số lượng loài vượt trội nhất là Odontotermes với 10 loài (15,87%) và Coptotermes với 8 loài (12,70%).
  • Nghiên cứu đã bổ sung 10 loài mới cho khu hệ mối Việt Nam so với các tài liệu đã công bố trước năm 2010, bao gồm: Reticulitermes fukiensis, Reticulitermes setous, Reticulitermes affinis, Reticulitermes solidimandibulas, Neotermes tuberogular, Glyptotermes montanus, Glyptotermes longnanensis, Procapritermes mushae, Procapritermes minutusPseudocapritermes planimentus.
  • Phân hóa sinh thái theo cảnh quan thể hiện rõ nét: Vùng núi (Vườn Quốc gia Ba Vì) có độ giàu loài cao nhất với 50 loài thuộc 18 giống (chiếm 79,37% tổng số loài); vùng đồi (Xuân Mai) ghi nhận 29 loài thuộc 12 giống (chiếm 46,03%); vùng đồng bằng nội thành chỉ có 14 loài thuộc 3 giống (chiếm 22,22%). Chỉ có 5 loài (chiếm 7,94%) có khả năng phân bố rộng ở cả 3 vùng, trong khi có tới 38 loài (chiếm 60,32%) phân bố hẹp ở 1 vùng cảnh quan duy nhất.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm số lượng loài từ 50 loài ở vùng núi xuống 14 loài ở vùng đồng bằng phản ánh tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa và sự phân mảnh sinh cảnh sống. Tại vùng đồng bằng nội thành, mật độ xây dựng cao cùng sự biến mất của tầng thảm mục hữu cơ tự nhiên đã loại bỏ hầu hết các loài mối đất chuyên hóa, chỉ còn lại các giống có khả năng thích nghi cao và phá hoại mạnh như Coptotermes (8 loài) và Odontotermes (5 loài) vốn tận dụng nguồn gỗ nhân tạo trong công trình và cây xanh đô thị.

Phân tích tương đồng sinh học Bray-Curtis chỉ ra rằng quần xã mối Hà Nội có mức độ tương đồng cao nhất với Vườn Quốc gia Tam Đảo (đạt 47,24%), tiếp theo là Vườn Quốc gia Xuân Sơn (40,43%), Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hữu Liên (38,71%), và có độ tương đồng thấp nhất với Vườn Quốc gia Cát Bà (chỉ đạt 27,27%). Nguyên nhân là do Vườn Quốc gia Ba Vì và Tam Đảo đều là các khối núi cao lục địa trên 1.000 m thuộc vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, trong khi Cát Bà chịu sự cách ly sinh thái hải đảo.

Toàn bộ dữ liệu phân hóa cảnh quan và tương đồng liên vùng có thể được biểu diễn trực quan qua sơ đồ hình cây (dendrogram) khoảng cách sinh thái và biểu đồ cấu trúc hình quạt biểu diễn tỷ lệ % các phân họ, làm nổi bật vai trò áp đảo của nhóm ăn gỗ và nhóm nuôi cấy nấm cộng sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập hệ thống trạm quan trắc sinh học định kỳ (Biomonitoring) tại các khu vực rừng tự nhiên và rừng trồng. Áp dụng đai chuẩn 100 m x 2 m để theo dõi biến động mật độ của các phân họ chỉ thị Termitinae và Nasutitermitinae, hướng tới mục tiêu duy trì chỉ số đa dạng loài Shannon-Wiener trên 2,5 tại Vườn Quốc gia Ba Vì trong lộ trình 2025–2027 do Ban Quản lý Vườn Quốc gia chủ trì.
  2. Xây dựng quy chuẩn quản lý mối hại sinh thái cho 48 công viên, vườn hoa và hệ thống cây xanh đô thị Hà Nội. Thay thế hoàn toàn hóa chất diệt côn trùng độc hại tồn lưu dài ngày bằng chế phẩm sinh học vi nấm Metarhizium anisopliaeBeauveria bassiana, đặt mục tiêu giảm thiểu 85% nguy cơ rỗng ruột gãy đổ ở các loài cây cổ thụ như xà cừ, muồng đen, sấu trong giai đoạn 2025–2028 dưới sự phối hợp của Công ty Công viên Cây xanh và các Viện chuyên ngành.
  3. Hoàn thiện quy trình kiểm soát và xử lý tổ mối trên 163 km hệ thống đê sông Hồng và đê sông Thái Bình. Ứng dụng thiết bị thăm dò sóng điện trường và siêu âm để phát hiện sớm các khoang tổ ngầm của loài Odontotermes hainanensis, giảm thiểu 90% nguy cơ thẩm lậu và vỡ đê trong mùa mưa lũ, thực hiện thường niên từ năm 2025 do Chi cục Quản lý Đê điều Hà Nội phụ trách.
  4. Triển khai dự án số hóa dữ liệu bộ sưu tập mẫu vật và mã vạch phân tử DNA (RAPD-PCR, gen ti thể) cho 63 loài mối khu vực Hà Nội. Hoàn thành tích hợp bản đồ số GIS phân bố loài trước năm 2027 do Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu côn trùng học, sinh thái học động vật: Luận văn cung cấp hệ thống dẫn liệu hình thái, khóa phân loại tới giống và danh mục 10 loài mối bổ sung mới tại Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy chuyên sâu và nghiên cứu phát sinh chủng loại học.
  • Cán bộ quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về bố trí đai ô định lượng 20 ô tiêu chuẩn (100 m x 2 m) nhằm đánh giá mức độ nguyên vẹn của hệ sinh thái rừng và lập báo cáo quan trắc tài nguyên định kỳ 6 tháng/lần.
  • Kỹ sư xây dựng, đơn vị bảo tồn di tích văn hóa và quản lý công trình thủy lợi: Công trình giúp nhận diện rõ tập tính sinh học của các loài nguy hại như Coptotermes formosanusOdontotermes hainanensis, từ đó xây dựng giải pháp phòng trừ mối an toàn, bảo vệ kết cấu kiến trúc cổ tại 4 quận nội thành và hệ thống đê điều xung yếu.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Sinh học, Khoa học Môi trường: Nguồn tư liệu mẫu mực về kỹ năng thiết kế thí nghiệm thực địa, kỹ thuật phân tích chỉ số sinh thái trên Primer V6 và phương pháp xử lý số liệu khoa học phục vụ khóa luận tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận bao nhiêu loài mối tại Hà Nội và đóng góp bao nhiêu phần trăm cho khu hệ mối quốc gia?

Qua phân tích 347 mẫu vật, nghiên cứu đã xác định được 63 loài mối thuộc 21 giống, 7 phân họ và 3 họ tại Hà Nội. Thành phần loài này chiếm 62,4% tổng số loài và 63,6% tổng số giống mối đã biết trên toàn quốc theo Động vật chí Việt Nam năm 2007, đồng thời ghi nhận bổ sung 10 loài mới cho khu hệ mối Việt Nam.

Vì sao họ Mối đất (Termitidae) lại chiếm ưu thế áp đảo tại khu vực nghiên cứu?

Họ Mối đất chiếm tới 42 loài (66,67%) và 16 giống (76,19%) nhờ khả năng thích nghi cao với cấu trúc thổ nhưỡng đa dạng từ đất phù sa sông Hồng (chiếm 25,6% diện tích) đến đất đỏ vàng (6,3%). Đặc biệt, mối thuộc phân họ Macrotermitinae có tập tính nuôi cấy nấm cộng sinh Termitomyces, giúp chúng tiêu hóa tối đa cellulose từ nhiều dạng thảm thực vật khác nhau.

Đặc trưng phân bố của mối thay đổi như thế nào giữa các vùng cảnh quan ở Hà Nội?

Độ phong phú loài giảm dần rõ rệt theo hướng từ miền núi xuống đồng bằng: Vườn Quốc gia Ba Vì có 50 loài (79,37%), vùng đồi Xuân Mai có 29 loài (46,03%), và đồng bằng nội thành chỉ còn 14 loài (22,22%). Khoảng 60,32% số loài chỉ giới hạn phân bố trong một vùng cảnh quan duy nhất do sự khắt khe về điều kiện vi khí hậu và độ che phủ rừng.

Cấu trúc quần xã mối có thể làm sinh vật chỉ thị cho tác động môi trường như thế nào?

Mối phản ứng rất nhạy với sự can thiệp của con người lên thảm thực vật. Kết quả tại 4 sinh cảnh núi Luốt chỉ ra rằng khi rừng hỗn tạp tự nhiên bị chuyển đổi thành đồi chè canh tác hoặc trảng cỏ, các loài thuộc phân họ Termitinae và Nasutitermitinae chuyên ăn mùn đất biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho các nhóm ăn gỗ thích nghi rộng.

Những loài mối nào gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng nhất tại đô thị Hà Nội?

Trong số 14 loài ghi nhận ở vùng đồng bằng, các loài thuộc giống Coptotermes (đặc biệt là Coptotermes formosanus) và giống Odontotermes (điển hình là Odontotermes hainanensis) gây hại nặng nề nhất. Chúng đục rỗng kết cấu gỗ của nhà ở, công trình văn hóa và đào khoang rỗng trong thân đê, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát sinh học chuyên biệt.

Kết luận

  • Hệ thống hóa đầy đủ danh lục 63 loài mối thuộc 21 giống, 7 phân họ, 3 họ từ 347 mẫu vật thu thập trên toàn địa bàn Hà Nội mở rộng.
  • Khẳng định vai trò cấu trúc vượt trội của họ Mối đất Termitidae (chiếm 66,67% tổng số loài) và phân họ Macrotermitinae (chiếm 31,75% tổng số loài).
  • Đóng góp quan trọng cho ngành côn trùng học nước nhà khi phát hiện và bổ sung 10 loài mới vào danh lục khu hệ mối Việt Nam.
  • Xác lập quy luật phân hóa đa dạng sinh học giảm dần từ vùng núi (79,37%), qua vùng đồi (46,03%) xuống vùng đồng bằng đô thị (22,22%).
  • Cung cấp luận cứ khoa học định lượng vững chắc cho việc ứng dụng mối làm sinh vật chỉ thị môi trường và phát triển công nghệ phòng trừ sinh học thân thiện.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hải Huyền là công trình nghiên cứu hệ sinh thái côn trùng Isoptera có quy mô đồng bộ đầu tiên tại Thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng không gian hành chính lên 3.324,92 km2. Các cơ quan quản lý đô thị, nông lâm nghiệp và môi trường cần khẩn trương ứng dụng các phát hiện sinh thái này vào kế hoạch bảo tồn thiên nhiên và kiểm soát dịch hại giai đoạn 2025–2030 nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.