CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Murdannia 1. Vị trí phân loại của chi Murdannia Vị trí phân loại của chi Murdannia theo hệ thống phân loại thực vật có hoa APG IV (Hệ thống phân loại thực vật hạt kín - Angiosperm Phylogeny Group) [3] như sau: Giới Thực vật (Plantae) Thực vật hạt kín (Angiospermae) Thực vật một lá mầm (Monocots) Bộ Thài Lài (Commelinales) Họ Thài Lài (Commelinaceae) Chi Murdannia 1. Số lượng loài và sự phân bố các loài thuộc chi Murdannia Chi Murdannia thuộc họ Commelinaceae, là một trong những chi lớn nhất gồm khoảng 60 loài được phân bố rộng khắp thế giới, tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới ấm thuộc Châu Á, Châu Phi, Trung và Nam Mỹ, đặc biệt là Châu Á với hơn 50% số lượng loài [1,4].
Châu Phi có 11 loài [5], Ấn Độ có 29 loài [6], Trung và Nam Mỹ có 6 loài [1]. Ở Việt Nam, chi Murdannia gồm 16 loài, trong đó, 7 loài được sử dụng làm thuốc là: M. Phân bố các loài thuộc chi Murdannia ở nước ta được thể hiện trong Bảng 1. Phân bố các loài thuộc chi Murdannia ở Việt Nam Loài Phân bố Các tỉnh phía Bắc (Ninh Bình, Nam Murdannia bracteata J.Morton ex Định,…) đến Thừa Thiên - Huế, D.
Hong Quảng Nam, Đà Nẵng. Murdannia medica (Lour.) Thừa Thiên - Huế, Khánh Hòa, Lâm D.Hong Đồng, Đồng Nai. Murdannia semiteres (Dalz.) Phan Rang Santapau Murdannia triquetra (Wall.) Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Bruckner Minh.
Murdannia japonica (Thurnb.) Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Faden Đồng Nai. Lâm Đồng, Phú Yên, Ninh Thuận, Murdannia edulis (Stokes) Faden Bình Phước, TP. Hồ Chí Minh. Murdannia gigantea (Vahl.
Bruckner Murdannia divergens (C.Clarke) Từ Lâm Đồng đến các tỉnh Nam Bộ. Bruckner Murdannia keisak (Hassk.) Handel- Hoàng Liên Sơn, Phú Yên, Khánh Mazz Hòa. Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Murdannia nudiflora (L.) Brenan Trị, Thừa Thiên- Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Đồng, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh.
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Lâm Murdannia simplex (Vahl. Murdannia spectabilis (Kurz) Faden Từ Huế đến Đà Lạt, Đồng Nai.) Bruckner Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế. Thảo nguyên trên vùng cát: Huế, Đà Murdannia vaginata (L.) Bruckner Nẵng, Nha Trang, Biên Hòa, Vũng Tàu, Phú Quốc. Murdannia vescicolor (Dalz.) Ruộng, dựa lộ, bình nguyên.
Đặc điểm thực vật chi Murdannia Chi Murdannia, họ Thài lài (Commelinaceae): Cây thân thảo mọc đứng hoặc mọc bò. Rễ thường phình lên ở giữa. Lá mọc cách hoặc mọc vòng ở gốc. Cụm hoa hình chùm xim, mọc ở ngọn hoặc nách lá, có cuống rõ và được bao bọc trong các lá bắc.
Ở mỗi lá bắc có 2 - 5 xim hoa. Hoa lưỡng tính, thường có vòi nhụy lệch về 1 phía so với trục hoa. Cánh hoa rời, màu tím, xanh dương, hồng, vàng hoặc hơi trắng, hình tròn hoặc hình trứng. 3 nhị sinh sản đối diện các lá đài, 3 nhị lép đối diện các cánh hoa.
Quả hình trứng, hình nang hoặc hình cầu, mở thành 3 ô. Mỗi ô có 1 hoặc 2 hạt, rốn hạt tròn. Dưới đây là hình ảnh một số loài Murdannia tìm thấy ở Việt Nam 5 Hình 1.1 Đặc điểm thực vật một số loài thuộc chi Murdannia ở Việt Nam 6 Các loài thuộc chi Murdannia có đặc điểm thực vật tương đối giống nhau. Vì vậy, khi phân tích cần chọn cây có cơ bản đầy đủ các bộ phận, đặc biệt là hoa - bộ phận ít bị thay đổi bởi điều kiện tự nhiên và khá đặc trưng cho loài.
Hoa của các loài thuộc chi Murdannia có thể khác nhau về màu sắc, hình dạng tràng hoa, kích thước nhị, nhụy hoa (Hình 1.2 Hoa của một số loài thuộc chi Murdannia 1. Tổng quan về loài Murdannia bracteata - Tên khoa học: Murdannia bracteata J.Hong, họ Thài lài (Commelinaceae). - Tên tiếng Việt: Trai lá hoa, Cỏ rươi lá bắc, Bao tử. Đặc điểm hình thái loài Murdannia bracteata Cây thân thảo, sống lâu năm.
Rễ sợi, dài, đường kính 0,15 - 0,4mm. Thân hình trụ, có khía dọc, chia đốt dài 3 - 10cm, màu xanh đậm; lông phủ dày đặc, màu trắng. Lá đơn, mọc so le; bẹ lá dài 0,7 - 1,3 cm; màu xanh nhạt, gốc lá có màu trắng, ôm lấy thân, mặt ngoài phủ lông dày đặc, màu trắng; phiến lá nguyên, hình dải dài, hình mác hoặc hình elip thuôn, phiến thon hẹp, đầu nhọn, gân lá chạy thẳng song song từ gốc, gân giữa rõ [9].3 Đặc điểm cơ quan sinh dưỡng của Murdannia bracteata Chú thích: 1. Cụm hoa mọc ở nách lá hay tận cùng của ngọn.
Mỗi hoa có một lá bắc riêng hình bầu dục. Hoa đều, lưỡng tính; cuống hình trụ dài, màu xanh, nhẵn; đài 3, rời, hình lòng thuyền, màu xanh nhạt, có lông ngắn thưa ở mặt ngoài; tràng 3, rời, màu tím; nhị 6 cái xếp thành 2 vòng, 3 nhị vòng ngoài bất thụ có chỉ nhị hình sợi, màu tím, mang bao phấn bất thụ có 3 thùy, 3 nhị hữu thụ có 8 kích thước khác nhau, chỉ nhị mập, mang các lông dài màu tím tập trung ở phần chân của chỉ nhị, bao phấn 2 ô, hình bầu dục, màu trắng; bầu nhụy hình elip thuôn, màu xanh, bầu 3 lá noãn liền nhau tạo thành 3 ô; vòi nhụy hình sợi dài 0,6 cm, màu tím nhạt. Mùa hoa tháng 5 - tháng 11 [2,7,9].4 Đặc điểm cơ quan sinh sản của Murdannia bracteata Chú thích: 1. Hoa nguyên vẹn nhìn từ trên xuống; 2b.
Hoa nguyên vẹn nhìn từ dưới lên; 3. Nhị bất thụ; 6b. Nhị hữu thụ; 7. Bầu cắt ngang.
Đặc điểm phân bố loài Murdannia bracteata Cây Trai lá hoa phân bố ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á như Malaysia, Việt Nam [2,10]. Ở nước ta, loài này được tìm thấy tại các tỉnh phía Bắc đến Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, ở những nơi đất ẩm ven đường, bờ kênh rạch, ven rừng, trên nương rẫy [7]. Thành phần hóa học của loài Murdannia bracteata Năm 2006, Wang Guei Jane cùng các cộng sự đã phân lập và xác định cấu trúc 4 hợp chất từ phân đoạn ethyl acetat của dịch chiết methanol toàn cây M. bracteata [11]: 9 (1) bracteanolid A (2) bracteanolid B (3) acid (+)-(R)-p-hydroxyphenyllactic (4) isovitexin Năm 2009, bằng xét nghiệm Folin-Ciocalteu, Yam Mun Fei và cộng sự xác định được tổng hàm lượng phenolic của M.
bracteata là khoảng 10% [12]. Năm 2014, Ooi Kheng Leong cùng các cộng sự đã phân lập một số hợp chất từ dịch chiết hexan của M. bracteata bằng phương pháp GC-MS và UPLC. 15 hợp chất bay hơi được phát hiện bằng phương pháp GC-MS bao gồm: (5) phytol (6) acid octadecanoic, butyl ester (7) tetracosan (8) 2,2-dimethyl-3-(3,7,16,20-tetramethyl-heneicosa-3,7,11,15,19- pentaenyl)-oxiran (9) tetrapentacontan (10) α-tocopherol (11) (3,5α)-cholest-7-en-3-ol (12) (3)-ergost-5-en-3-ol (13) stigmasterol (14) hexacontan (15) (3,5α)-ergost-7-en-3-ol (16) 9,19-cyclocholestan-3-ol, 14-methyl, ( 3,5α) (17) sitosterol (18) (3)-stigmasta-5,24(28)-dien-3-ol 10 (19) 9,19-cyclo-25,26-epoxyergostan-3-ol, 4,4,14-trimethyl-, acetat Các hợp chất không bay hơi là 2 dẫn xuất của apigenin (20) và acid caffeic (21) được xác định bằng UPLC [13].
Năm 2016, thông qua phổ IR, Ch’ng Yung Sing và cộng sự đã cho thấy M. bracteata có chứa hàm lượng lớn các hợp chất saccharid [14]. Năm 2019, Shyur Lie Fen cùng các cộng sự xác định được 7 hợp chất monogalatosyldiacylglycerol có trong phân đoạn dịch chiết giàu galactolipid của M. Trong đó, 1,2-di-O-α-linolenoyl-3-O-β-galactopyranosyl-sn- glycerol (dLGG) (22) là thành phần chính (78,9%).
Các gốc acyl cấu tạo nên 6 galactolipid còn lại là: (23) α-stearidonoyl / α-stearidonoyl (24) α-linolenoyl / α stearidonoyl (25) α-linoleoyl / α-linolenoyl (26) palmitoyl / α-linolenoyl (27) oleoyl / α-linolenoyl (28) palmitoyl / α-linoleoyl Vị trí của 2 gốc acyl trong các hợp chất 24, 25, 26, 27, 28 chưa được xác định (R1, R2 có thể hoán vị cho nhau) [15]. Cùng trong năm đó, nghiên cứu của Lê Phương Thảo đã phân lập được 2 hợp chất từ phân đoạn dịch chiết ethyl acetat của lá cây M. bracteata bằng phương pháp sắc ký cột: Apigenin (29) và Quercetin (30) [9]. Năm 2021, nghiên cứu của Đỗ Thị Thanh Hương đã phân lập được 3 hợp chất từ phân đoạn dịch chiết ethyl acetat của lá cây M.
bracteata bằng phương pháp sắc ký cột và sắc ký bản mỏng: Acid 2-hydroxyl-3-phenylpropanoic (31), Acid 3-amino butanoic (32) và Acid (2E,4E,1′R,3′S,5′R,6′S)-dihydrophaseic 3′-O-β-D-glucopyranosid (33) [16]. Tác dụng sinh học của Murdannia bracteata 1. Tác dụng kháng Helicobacter pylori Năm 2005, Wang Yuan Chuen cùng cộng sự đã thử nghiệm và sàng lọc tác dụng kháng Helicobacter pylori của dịch chiết ethanol 95% từ 50 loài thảo dược Đài Loan. Trong đó, dịch chiết của M.
bracteata với khả năng ức chế 8/10 chủng thử nghiệm cho hoạt tính kháng Hp trung bình [17]. Tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ gan Nhóm nghiên cứu của Mun Fei Yam và cộng sự (2010) đã công bố dịch chiết ethanol lá của loài này có tác dụng chống oxy hóa dựa trên hoạt tính thu dọn gốc 2,2′-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH), ức chế lipid peroxidase và chống oxy hóa tương đương chế phẩm trolox [12]. Thử nghiệm in vitro cho thấy ME có khả năng ức chế hình thành gốc tự do 2,2’-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH) với EC50 = 2,82 ± 0,009 mg/mL. Ngoài ra, khi cho chuột uống ME (liều 500mg/kg hoặc 1000mg/kg) trước khi gây nhiễm độc gan bằng CCl4, quan sát thấy hoại tử mô ở gan giảm.
Sự tăng hoạt độ men gan (AST và ALT huyết thanh) và nồng độ malondialdehyd (MDA) trong huyết tương cũng bị ức chế đáng kể. ME còn ức chế peroxid hóa lipid trong mô gan với EC50 = 1,785 mg/mL ± 0,01 mg/mL. Tác dụng bảo vệ gan của dịch chiết có thể được giải thích do hàm lượng 10% các hợp chất chứa nhóm phenol, bởi nhiều hợp chất trong nhóm này đã được chứng minh về hoạt tính chống oxy hóa và bảo vệ gan. Tác dụng điều trị tổn thương gan Năm 2019, trong nghiên cứu của Shyur Lie Fen cùng các cộng sự, phân đoạn chiết giàu galactolipid (GLE) của M.
bracteata và dLGG (22)– hoạt chất phân lập từ phân đoạn này của M. bracteata được đánh giá có tác dụng điều trị tổn thương gan. GLE và dLGG làm giảm đáng kể sự tăng hoạt độ AST, ALT huyết thanh ở chuột bị gây tổn thương gan bằng LPS và D-galactosamin N 12 (LPS/D-GalN), do đó có hiệu quả trong điều trị tổn thương gan và viêm gan cấp do LPS/D-GalN. Ngoài ra, dLGG còn có tác dụng bảo vệ gan nếu dùng với liều 1 hoặc 10 mg/kg trước khi tiêm LPS/D-GalN cho chuột [15].
Tác dụng gây độc tế bào ung thư gan và ức chế α-glucosidase Năm 2012, Ooi Kheng Leong và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu tác dụng điều trị ung thư gan và tiểu đường của M. bracteata trong y học cổ truyền ở Malaysia. Dược liệu được phơi khô, xay và chiết bằng các dung môi hexan, chloroform và methanol, sau đó thử độc tính từng dịch chiết trên tế bào ung thư biểu mô gan HepG2 và hoạt tính ức chế α-glucosidase [13]. Tác dụng ức chế tế bào ung thư biểu mô gan HepG2 chỉ có ở dịch chiết hexan (HE), với EC50 = 37,17± 1,00 μg/mL.