Chương 1, chúng tôi sẽ khái quát một số cách hiểu về thành ngữ, đặc điểm của thành ngữ từ phương diện kết cấu, ngữ nghĩa; sự phân loại các kiểu thành ngữ; giá trị của thành ngữ tiếng Việt nói chung và cung cấp một số thông tin cơ bản về hai tiêu thuyết gia Ma Văn Kháng và Nguyễn Bắc Sơn như những tham chiếu ban đầu để đi vào nghiên cứu sự xuất hiện hệ thống thành ngữ trong tiêu thuyết “Người thợ mộc và tắm ván thiên” và “Gã Tép riu". Khái niệm về thành ngữ tiếng Việt Khi nêu ra khái niệm về thành ngữ, các nhà ngôn ngữ học có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tương đối thống nhất. Tác giả Hoàng Văn Hanh cho rằng: “Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thức, cấu trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là khẩu ngữ” [18; 21] Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “7hành ngữ là những cụm từ cô định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có giá trị gợi tả tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể.
Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng dựa trên cơ sở của hiện tượng so sánh và ẩn dự” [12; 181] Tác gia Dai Xuan Ninh thi khang định: “7hành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mắt tính độ ìp ở cái mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [27; 212] Tác giả Củ Đình Tú nêu quan : “Thành ngữ là những tổ hợp từ có sẵn (cụm từ có định) trong ngôn ngữ có chức năng định danh như: từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hoạt động” [26; 274] Tác giả Vũ Ngọc Phan thì nêu khái niệm: “Thành ngữ là một phân câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [30; 48] Tác giả Hồ Lê nêu: “7hành ngữ là những tổ hợp từ (bao gồm nhiễu từ hop lại có tính chất vững chắc vẻ cấu tạo, và bóng bẩy về ý nghĩa) dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thải nào đó" [20; 97] Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm lại cho rằng: “Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn. Ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” [15; 9] Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến đã nêu về thành ngữ, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thành ngữ là: Thành ngữ là những cụm từ có định được dùng đề định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động. Thành ngữ có hình thức và nội dung khá hoàn chỉnh. Nghĩa của thành ngữ có tính hình tượng, tính gợi cảm và hình thức diễn đạt có tính bóng bẩy, trau chuốt và giàu tính gợi cảm.
Thành ngữ là một đơn vị của ngôn ngữ học và nó có giá trị rất cao trong thực hành ngôn ngữ cũng như trong diễn ngôn nghệ thuật, cả ở thể loại trữ tình lẫn thể loại tự sự. Trên ý nghĩa như thế, thành ngữ được cả các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học lẫn các nhà nghiên cứu văn học quan tâm. Đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt 1. Đặc điểm kết cấu Thành ngữ là một tô hợp từ có định, bền vững về hình thái - cấu trúc.
Chính nhờ tính chất cố định, chặt chẽ này mà thành ngữ được dùng tương. đương như Tính có định về hình thái - cấu trúc của thành ngữ được thể hiện ở thành phần từ vựng của thành ngữ. Các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ hầu như đều được giữ nguyên trong sử dụng và thường không thể thay thế bằng các 10 yếu tố khác. Chẳng hạn chúng ta nói lên thác xuống ghềnh chứ không nói vượt thác xuống ghênh, hay thành ngữ chuột sa chinh gạo không thé thay thành chuột vào chinh gạo.
Ngoài ra, tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ còn thể hiện ở sự có định về trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ. Ví dụ người ta thường nói ăn nên làm ra chứ không nói hoặc rất ít khi nói ăn rư làm nên, hoặc nói mẹ tròn con vuông chứ không nói mẹ vuông con tròn Tinh ồn định, cố định vẻ thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ. Tuy nhiên, tính cố định, bền vững về hình thái cấu trúc của thành ngữ không phải là bất biến. Trong giao tiếp, người ta vẫn chấp nhận việc sử dụng thành ngữ một cách linh hoạt và sáng tạo.
Chẳng hạn nói mèo thì lại vẫn hoàn mèo hay cơn đen với vận túng, trời thảm với đất sẩu thì vẫn có thê chấp nhận được. Cho nên tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn và tính uyên chuyển của nó trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau trong thực tế sử dụng đơn vị ngôn ngữ đặc biệt này. Đặc điểm ngữ nghĩa Đặc trưng nổi bật nhất về ngữ nghĩa của thành ngữ là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về ý nghĩa. Thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng.
trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Hơn nữa, khác với các đơn vị từ vựng thông thường, nội dung của thành ngữ không hướng tới điều được. nhắc đến trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ mà thường được suy ra từ các yếu tố cấu thành. Chẳng hạn thành ngữ mứø nạc nửa mỡ thực chất không phải miêu tả miếng thịt có chứa nửa phần lạc và nửa phần mỡ mà thành ngữ này ngụ ý chỉ thái độ nhập nhằng, không rõ rằng, không dứt khoát nên khó xác định được bản chất.
Hay thành ngữ nát gan nát ruột cũng không phải thể hiện việc gan và ruột bị nát mà thành ngữ này muốn biểu thị trạng thái quá buồn phiền, lo lắng trong lòng, lúc nào cũng bị giày vò, day dứt không yên. Phân loại thành ngữ tiếng Việt Dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau, chúng ta sẽ có các kết quả phân loại thành ngữ khác nhau. Dựa vào phương thức tạo nghĩa của thành ngữ. Trong Thành ngữ học tiếng Việt, tác giả Hoàng Văn Hành cho rằng thành ngữ tiếng Việt được chia thành hai loại lớn là chảnh ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ.
Tiếp đó, căn cứ vào đặc điểm “có hay không có tính đối xứng”, thành ngữ ân dụ lại được chia thành hai tiểu loại là hành ngữ ấn du đối xứng, ví dụ: mật ít ruôi nhiều, mỗ yên mả đẹp. và thành ngữ dn du phi đối xứng, ví dụ: ngậm bô hòn làm ngọt, đứt gánh giữa đường. Dựa vào cơ chế cầu tạo của thành ngữ Theo Nguyễn Thiện Giáp trong 7ừ vựng học Tiếng Việt thì thành ngữ có hai loại lớn là “hành ngữ hợp kết và thành ngữ hòa két. Thành ngữ hợp kết được hình thành do sự kết hợp của một thành tố biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các thành tố khác biểu thị thuộc tính riêng của đối tượng, ví dụ: gái đĩ già môm, chó đen giữ mực.
Còn thành ngữ hòa kết được hình thành trên cơ sở của một ân dụ toàn bộ, ví dụ: gan vàng dạ sắt, khi vặt lông khi. Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ. Dựa vào nguồn gốc của thành ngữ, các nhà nghiên cứu chia thành ngữ tiếng Việt thành hai tiểu loại cơ bản sau đây: a. Thành ngữ thuần Liệt Thành ngữ Thuần Việt là những thành ngữ do người Việt tự sáng tạo dựa trên những chất liệu ngữ âm thuần Việt, phản ánh đời sống văn hóa, tỉnh thần, phong tụt quán, thói quen, nếp cảm nếp nghĩ của người Việt.
Dấu ấn thuần Việt của thành ngữ thể hiện ở các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, màu sắc phong cách và cấu trúc. 12 Vi du: vợ nọ con kia nhiễu no ít đủ vắt chân lên cổ b. Thành ngữ Hán - Việt Thành ngữ Hán Việt là những thành ngữ được cấu tạo bằng các yếu tố Hán - Việt chứa đựng những nội dung cao siêu, trọng đại mang ý nghĩa răn dạy. mang phong cách trang trọng, cô kính, tĩnh tại được sử dụng nhiều trong phong cách viết.
Ví dụ: bạch diện thư sinh thâm căn có đề kiến giả nhất phận 1. Dựa vào tính biểu trưng của thành ngí. Thành ngữ có tính biểu trưng thấp Thành ngữ có tính biểu trưng tháp là loại thành ngữ có cấu trúc so sánh và ý nghĩa của nó được thực hiện ở cấu trúc bề mặt, thường chỉ có một yếu tố mang tính biểu tượng. Ví dụ: đẳng đỉnh như chỉnh trôi sông lằng nhằng như cơn mưa đẹp như tiên b.
Thành ngữ có tính biểu trưng cao Thành ngữ có tính biểu trưng cao là loại thành ngữ có ý nghĩa ẩn dụ ngữ nghĩa được hiểu theo nghĩa bóng là chủ yếu. Có hai hình thức đẻ thể hiện ngữ nghĩa của thành ngữ biểu trưng cao đó là ân dụ và hoán dụ. * Thành ngữ ẩn dụ Thanh ngữ ẩn dụ là thành ngữ lấy sự vật, hiện tượng, tính chat nay dé nêu lên sự vật, hiện tượng khác dựa vào mối quan hệ giống nhau giữa các sự vật hiện tượng. Ví dụ: 13 chớ củi vẻ rừng tay làm hàm nhai thắt lưng buộc bụng * Thành ngữ hoán dụ Thành ngữ hoán dụ cũng là hình thức chuyển nghĩa nhưng thành ngữ hoán dụ dựa trên mối quan hệ liên tục về sự gần nhau giữa hai đối tượng được nhắc đến trong thành ngữ đó.
Ví dụ: tại qua nạn khỏi mâm cao cô đây bằm gan tím ruột khua môi múa mép 1. Giá trị văn hóa dân tộc của thành ngữ tiếng Việt 1. Tính biểu trưng Tính biểu trưng của thành ngữ thê hiện ở chỗ hình ảnh hoặc sự việc, sự vật cụ thể miêu tả trong thành ngữ là nhằm nói về những ý niệm khái quát hóa. Do tính hoàn chỉnh và bóng bây về nghĩa đã tạo nên tính biểu trưng của thành ngữ và tính biểu trưng đã trở thành đặc điểm nổi bật của thành ngữ.
Tính biểu trưng có ý nghĩa quyết định giá trị của thành ngữ. Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu đã nói về tính biểu trưng của thành ngữ như sau: “Biểu trưng là lấy những vật thực, việc thực để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hành động, tình thế,. phổ biến, khái quát" [1; 70] Vi dụ: Thành ngữ lắm rễ nhiều cành không phải là việc miêu tả cái cây có nhiều rễ và cành mà muốn nói đến nhiều mối quan hệ chẳng chit, ching chéo, phức tạp.