CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 4 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Giới thiệuTrường Đại học An Giang Trường Đại học An Giang đã trải qua hơn hai thập niên ghi dấu những bước tiến vượt bậc trên chặng đường phát triển. Trường được thành lập vào ngày 30/12/1999 theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; đến ngày 13/8/2019, Trường chính thức trở thành Trường đại học thành viên của ĐHQG-HCM. Trường đã được Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục, ĐHQG-HCM cấp Giấy chứng nhận đạt chuẩn chất lượng giáo dục cấp cơ sở GDĐH giai đoạn 2018 – 2023, và là thành viên liên kết của Tổ chức mạng lưới đảm bảo chất lượng (AUN-QA) thuộc Tổ chức mạng lưới các trường Đại học Đông Nam Á (AUN) từ tháng 3/2019. Trường được gắn liền với sứ mệnh là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Trường là trung tâm đào tạo trình độ đại học và sau đại học đa ngành, đa lĩnh vực, với 63 ngành được cấp phép đào tạo hình thức giáo dục chính quy; trong đó có 05 ngành đào tạo trình độ Thạc sĩ (ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường được phát triển từ Dự án CONSEA do Tổ chức Erasmus+, Châu Âu tài trợ), 39 ngành trình độ Đại học (03 ngành có đào tạo chương trình chất lượng cao: Khoa học cây trồng, Công nghệ thực phẩm và Công nghệ sinh học) và 20 ngành trình độ Cao đẳng. Bên cạnh đó, Trường còn đào tạo 23 ngành hình thức giáo dục thường xuyên với 21 ngành trình độ Đại học và 2 ngành trình độ Cao đẳng. Bên cạnh công tác đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học cũng được nhà trường đặc biệt chú trọng. Trường đã thực hiện 624 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp và công bố 1.718 bài báo trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước.
Năm 2017, tạp chí khoa học của Trường đã được Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước đưa vào danh mục tính điểm các công trình khoa học. Từ tháng 6/2019, Tạp chí Khoa học Trường ĐHAG được đổi tên thành Tạp chí Khoa học Quốc tế AGU (AGU International Journal of Sciences), với 10 kỳ xuất bản/năm (04 kỳ xuất bản bằng tiếng Anh theo chuẩn học thuật quốc tế) ở 04 nhóm lĩnh vực chuyên ngành.2 Khái niệm sinh viên là khách hàng trong giáo dục đại học Khái niệm sinh viên là khách hàng nhận được sự đồng tình với triết lý quản lý chất lượng toàn diện (TQM) trong quá khứ, trong đó chất lượng được định nghĩa dựa trên sự hài lòng của khách hàng (Schwartzman, 1995). Các doanh nghiệp đã áp dụng TQM để cải thiện hiệu quả hoạt động của họ nhằm 5 mục đích cung cấp dịch vụ ở mức độ thỏa mãn cao hơn cho người tiêu dùng và từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh và lợi nhuận. Theo Sax (2004) và Schwartzman (1995), các trường đại học đã tuân thủ thực tiễn quản lý trong lĩnh vực kinh doanh và chấp nhận quan điểm về sự hài lòng của khách hàng theo TQM, như một chìa khóa để tồn tại trong lĩnh vực giáo dục đại học do việc cắt giảm tài trợ của chính phủ và áp lực cạnh tranh cao.
Các trường đại học đang cạnh tranh với nhau để thu hút và giữ chân sinh viên. Hoạt động quản lý của họ được điều chỉnh theo định hướng người tiêu dùng và quy trình hoạt động hướng tới sự hài lòng của sinh viên với tư cách là khách hàng. Áp dụng khái niệm sinh viên là khách hàng có thể cải thiện quá trình giáo dục, chẳng hạn như cải thiện chất lượng dịch vụ hoặc đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Tuy nhiên, có sự không tương thích giữa lĩnh vực kinh doanh và lĩnh vực giáo dục; do đó, việc áp dụng phép ẩn dụ khách hàng đối với giáo dục đang gặp khó khăn (Schwartzman, 1995).
Thêm vào đó, nghiên cứu trong việc cung cấp dịch vụ tập trung vào khái niệm khách hàng là người nhận dịch vụ và đưa ra một số phân loại dịch vụ nhấn mạnh quan điểm của người nhận dịch vụ (ví dụ Gro¨nroos, 2000; Kotler, 1980; Vandermerwe & Chadwick, 1989), nhưng các nhà nghiên cứu đã không nhấn mạnh khái niệm sinh viên (với tư cách là khách hàng) là người nhận dịch vụ. Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào sự tương tác giữa người nhận dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ (Dallimore và cs., 2007; Svensson, 2004; Bagozzi, 2006; Petzer và cs., 2012) cũng như kinh nghiệm của người nhận dịch vụ và đánh giá các nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ Yu & Dean, 2001; Bolton, 1998; Liljander & Strandvik, 1997). Nghiên cứu này liên quan đến việc đo lường nhận thức của người nhận dịch vụ trước khi sử dụng dịch vụ, sau đó là sử dụng dịch vụ từ nhà cung cấp dịch vụ như một biện pháp hỗ trợ để hiểu hành vi lựa chọn của sinh viên (với tư cách là người nhận dịch vụ) có nên hoặc không nên học tại các trường đại học (với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ) áp dụng khái niệm sinh viên là khách hàng. Theo khái niệm sinh viên là khách hàng, các cơ sở giáo dục trở thành nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ.
Họ cần quản lý hoạt động, giám sát hiệu quả và tạo ra các dịch vụ chất lượng đáp ứng mong đợi của sinh viên (Clayson & Haley, 2005). Sự không hài lòng của sinh viên với các dịch vụ của trường đại học gần giống với những lời chống lại danh tiếng của trường đại học. Các cơ sở giáo dục được khuyến khích cải thiện chất lượng dịch vụ của họ (ví dụ: chất lượng dịch vụ sinh viên và dịch vụ hành chính) để nâng cao sự hài lòng của sinh viên tương ứng chặt chẽ với triết lý TQM. Sinh viên được coi là khách hàng khi họ đã tham gia sử dụng dịch vụ giáo dục (Kanji & Tambi, 1999).
Sinh viên trả chi phí giáo dục của họ; do đó, 6 họ phải được đối xử theo cách giống như bất kỳ người mua hàng hóa hoặc dịch vụ (Bajou, 2005; Kanji & Tambi, 1999). Họ có cơ hội bày tỏ mong muốn và phản hồi về môi trường học tập của họ (ví dụ: chất lượng giảng dạy và cơ sở vật chất trong lớp học). Họ có thể đưa ra quyết định mua các dịch vụ của trường đại học và cung cấp phản hồi, phàn nàn hoặc ngưỡng mộ đối với trường đại học giống như cách họ mua các sản phẩm hàng ngày từ cửa hàng (Clayson & Haley, 2005). Hơn nữa, khái niệm sinh viên là khách hàng làm suy yếu ý thức trách nhiệm của sinh viên đối với việc học của chính họ (Lammers và cs.
Sinh viên trở thành người tiêu dùng thụ động, những người chuyển trách nhiệm học tập của họ cho các giảng viên dẫn đến sự không hài lòng với sự tham gia vào lớp học (Clayson & Haley, 2005; Rolfe, 2002). Họ sẽ mua những khóa học thoải mái nhất, dễ dàng vượt qua bài đánh giá và mong đợi điểm cao, bất kể họ đã nỗ lực như thế nào trong công việc. Ngoài ra, đánh giá giảng dạy của sinh viên cung cấp quyền kiểm soát gián tiếp đối với giảng viên (Sappey & Bamber, 2007). Clayson & Haley (2005), Eagle & Brennan (2007) cho rằng sinh viên có thể phạt giảng viên khắt khe thông qua phản hồi quan trọng về việc đánh giá hiệu quả trong giảng dạy.
Những giảng viên có mâu thuẫn với sinh viên sẽ gặp rắc rối với triển vọng thăng tiến của họ (Chonko và cs., 2002; Obermiller và cs. Họ được kỳ vọng sẽ làm hài lòng sinh viên hơn là thách thức sinh viên tham gia vào các lớp học. Ngoài ra, giảng viên sẽ nhận ra sinh viên của họ tham gia một lớp học với mục đích có được bằng cấp hơn là kiến thức. Họ sẽ tập trung vào những gì sinh viên muốn (để vượt qua khóa học) và ít chú ý đến những gì sinh viên cần học được từ khóa học đó.
Eagle & Brennan (2007) cho rằng việc áp dụng phép ẩn dụ “khách hàng” trong giáo dục đại học có thể làm hỏng mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên. Sinh viên mong muốn có mối quan hệ tốt với giảng viên của họ như các thành viên trong gia đình và bạn bè thay vì mối quan hệ giữa người bán và người mua (Watjatrakul, 2012).3 Lý thuyết làm nền tảng cho mô hình nghiên cứu * Lí thuyết hành vi hợp lí – TRA (Theory of Reasoned Action) Lý thuyết hành vi hợp lí (TRA), được giới thiệu lần đầu tiên bởi Martin Fishbein năm 1967. Lý thuyết phát biểu rằng, ý định dẫn đến hành vi của một cá nhân. Theo đó lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) chỉ ra rằng ý định hành vi của một người chịu ảnh hưởng bởi hai thành phần chính: thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan.
Fishberin (1980) tuyên bố rằng mọi người không thực hiện một hành vi nhất định trừ khi họ đã xem xét ý nghĩa của hành động của mình trước đó. Hơn nữa, TRA cũng mô tả hoạt động của con người là hợp lý và có 7 hệ thống và cho thấy rằng thông tin có sẵn được sử dụng hợp lý để đưa đến quyết định hành vi. Lý thuyết chỉ ra rằng ý định hành vi càng lớn, thay đổi trong hành vi khách hàng sẽ càng cao. Theo lý thuyết TRA, ý định hành vi cá nhân bị ảnh hưởng bởi hai thành phần chính là chuẩn chủ quan và thái độ.
Trong bối cảnh giáo dục và hành vi của sinh viên, nó được áp dụng để xác định thái độ và ý định của sinh viên. Thái độ bao gồm các thành phần nhận thức và tình cảm, trong đó nhận thức liên quan đến suy nghĩ và tình cảm liên quan đến cảm xúc của con người (Ajzen, 2001). Thái độ đề cập đến những cảm xúc tích cực hay tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành vi nhất định. Chuẩn chủ quan là nhận thức của con người về việc phải ứng xử như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Thái độ và chuẩn chủ quan có mức độ ảnh hưởng khác nhau trong việc dự đoán ý định hành vi và thay đổi tùy thuộc vào từng cá nhân và tình huống (Miller, 2005). Thái độ của một cá nhân đối với hành vi đề cập đến niềm tin của cá nhân về những kết quả của hành vi và đánh giá của người đó về những kết quả này. Chuẩn chủ quan đề cập đến niềm tin về việc những người xung quanh có ảnh hưởng cho rằng cá nhân này nên thực hiện hành vi.