Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu tăng cường tích luỹ một số alkaloid có hoạt tính sinh học từ sinh khối rễ tơ cây bá bệnh eurycoma longifolia jack nuôi cấy trên hệ thống bioreactor 20 lít

Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu tăng cường tích luỹ alkaloid từ rễ tơ cây bá bệnh Eurycoma longifolia Jack nuôi cấy trên hệ thống bioreactor 20 lít.

Chuyên ngành

Hoá sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu chung về cây Bá bệnh

1.2. Đặc điểm sinh học và phân bố

1.3. Thành phần hoá học và hoạt tính sinh học các alkaloid của cây Bá bệnh

1.4. Tác dụng dược lý của cây Bá bệnh

1.5. Ứng dụng của cây Bá bệnh trong Y học cổ truyền

1.6. Nuôi cấy sinh khối rễ tơ

1.6.1. Giới thiệu về nuôi cấy sinh khối rễ tơ

1.6.2. Nuôi cấy rễ tơ trên quy mô Bioreactor để thu nhận hợp chất thứ cấp

1.6.3. Ảnh hưởng của elicitor đến tích luỹ các HCTC trong quá trình nuôi cấy rễ tơ cây Bá bệnh

1.6.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về nuôi cấy sinh khối rễ tơ thu nhận các HCTC

2. CHƯƠNG II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thiết bị và hoá chất nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp định tính bằng sắc ký lớp mỏng

2.4.2. Thực nghiệm chiết cao alkaloid và tách chất sạch

2.4.3. Phương pháp xác định cấu trúc hoá học

2.4.4. Nghiên cứu hoạt tính sinh học của các alkaloid phân lập được từ rễ tơ cây Bá bệnh

2.4.5. Thực nghiệm và phương pháp định lượng các alkaloid thông qua phương pháp HPLC-DAD

2.4.6. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và tích luỹ các alkaloid của rễ tơ cây Bá bệnh trên bình tam giác 500 ml

2.4.7. Xây dựng quy trình nuôi cấy thu nhận sinh khối rễ tơ cây Bá bệnh trên hệ thống Bioreactor 20 lít

2.5. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Xác định cấu trúc hoá học của các chất phân lập được từ cao chiết alkaloid

3.2. Kết quả khảo sát hoạt tính sinh học của các chất phân lập được từ cao chiết alkaloid của rễ tơ cây Bá bệnh

3.3. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư của các chất thử (1), (2), (3)

3.4. Thử khả năng ức chế sự sản xuất của IL-6 và TNF-α trên tế bào đại thực bào chuột và người kích thích bởi LPS của chất (1), (2), (3)

3.5. Xây dựng đường chuẩn định lượng các alkaloid trong các mẫu Bá bệnh bằng phương pháp HPLC-DAD

3.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và tích luỹ các chất (1), (2), (3) của rễ tơ trên bình tam giác 500 ml

3.7. Ảnh hưởng trạng thái môi trường đến sinh trưởng và phát triển của rễ tơ cây Bá bệnh

3.8. Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng và phát triển của rễ tơ Bá bệnh

3.9. Ảnh hưởng chiều dài rễ ban đầu đến sinh trưởng và phát triển của rễ tơ cây Bá bệnh

3.10. Ảnh hưởng khối lượng rễ cấy chuyển đến sinh trưởng và phát triển của rễ tơ cây Bá bệnh

3.11. Ảnh hưởng của môi trường khoáng đến khả năng sinh trưởng và tích luỹ hợp chất (1) 7-MCPA, (2) 9-methoxycanthin-6-one, (3) 9-hydroxycanthin-6-one trong quá trình nuôi cấy rễ tơ cây Bá bệnh

3.12. Ảnh hưởng của jasmonic acid (JA) lên sự tăng sinh và tích luỹ chất (1) 7-MCPA, (2) 9-methoxycanthin-6-one, (3) 9-hydroxycanthin-6-one trong quá trình nuôi cấy rễ tơ cây Bá bệnh

3.13. Ảnh hưởng của salicylic acid (SA) lên sự tăng sinh và tích luỹ chất (1) 7-MCPA, (2) 9-methoxycanthin-6-one, (3) 9-hydroxycanthin-6-one trong quá trình nuôi cấy rễ tơ cây Bá bệnh

3.14. Ảnh hưởng của dịch chiết nấm men (YE) lên sự tăng sinh và tích luỹ chất (1) 7-MCPA, (2) 9-methoxycanthin-6-one, (3) 9-hydroxycanthin-6-one trong quá trình nuôi cấy rễ tơ cây Bá bệnh

3.15. Xây dựng quy trình nuôi cấy thu nhận sinh khối rễ tơ Bá bệnh trên hệ thống bioreactor 20 lít

3.16. Thiết lập hệ thống nuôi cấy

3.17. Đánh giá sự tích luỹ các alkaloid (1), (2), (3) trong quá trình nuôi cấy rễ tơ trên hệ thống bioreactor 20 lít so với rễ tự nhiên

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu

Luận án tập trung vào nghiên cứu tăng cường tích lũy các alkaloid có hoạt tính sinh học từ rễ tơ cây bá bệnh Eurycoma Longifolia Jack trong bioreactor 20 lít. Mục tiêu chính là khảo sát hoạt tính sinh học của các alkaloid, xác định điều kiện nuôi cấy tối ưu, và xây dựng hệ thống bioreactor để nhân sinh khối rễ tơ. Nghiên cứu này đóng góp vào việc giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn nguyên liệu dược phẩm từ cây bá bệnh.

1.1. Tăng cường tích lũy

Nghiên cứu tập trung vào tăng cường tích lũy các alkaloid như 7-MCPA, 9-methoxycanthin-6-one, và 9-hydroxycanthin-6-one thông qua việc sử dụng các elicitor như jasmonic acid (JA), salicylic acid (SA), và dịch chiết nấm men (YE). Các elicitor này kích thích sự tích lũy các hợp chất thứ cấp trong quá trình nuôi cấy rễ tơ.

1.2. Alkaloid

Các alkaloid được phân lập từ rễ tơ cây bá bệnh có hoạt tính sinh học đáng kể, bao gồm khả năng kháng viêm, gây độc tế bào ung thư, và ức chế sản xuất các cytokine gây viêm. Các alkaloid này được xác định cấu trúc hóa học và đánh giá hoạt tính sinh học thông qua các phương pháp phân tích hiện đại như HPLC-DADNMR.

II. Rễ tơ cây bá bệnh

Rễ tơ cây bá bệnh được nuôi cấy trong môi trường in vitro để thu nhận sinh khối và các hợp chất thứ cấp. Nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và tích lũy alkaloid, bao gồm ánh sáng, nhiệt độ, và môi trường dinh dưỡng. Rễ tơ có khả năng sinh trưởng liên tục mà không cần bổ sung chất điều hòa sinh trưởng, giúp tạo ra nguồn nguyên liệu sạch và ổn định.

2.1. Nuôi cấy rễ tơ

Quá trình nuôi cấy rễ tơ được thực hiện trên các môi trường khác nhau như WPMSH, với sự bổ sung các elicitor để tăng cường tích lũy alkaloid. Nghiên cứu đã tối ưu hóa các điều kiện nuôi cấy, bao gồm nhiệt độ, ánh sáng, và thời gian nuôi cấy, để đạt được sinh khối tối đa và hàm lượng alkaloid cao.

2.2. Eurycoma Longifolia Jack

Eurycoma Longifolia Jack là loài cây dược liệu quý, có giá trị cao trong y học cổ truyền và hiện đại. Các nghiên cứu về cây này tập trung vào việc khai thác các hợp chất thứ cấp, đặc biệt là alkaloid, để ứng dụng trong sản xuất dược phẩm và thực phẩm chức năng.

III. Bioreactor 20 lít

Hệ thống bioreactor 20 lít được thiết kế và tối ưu hóa để nhân sinh khối rễ tơ cây bá bệnh trên quy mô lớn. Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của hệ thống này trong việc tích lũy các alkaloid so với rễ tự nhiên. Kết quả cho thấy, bioreactor 20 lít có khả năng sản xuất sinh khối rễ tơ với hàm lượng alkaloid cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất dược phẩm.

3.1. Công nghệ sinh học

Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi cấy rễ tơ cây bá bệnh đã mở ra hướng đi mới trong sản xuất dược liệu. Bioreactor 20 lít là một trong những công nghệ tiên tiến, giúp tự động hóa quá trình nuôi cấy, giảm thiểu nhân công và tăng hiệu suất sản xuất.

3.2. Tối ưu hóa sản xuất

Nghiên cứu đã tối ưu hóa sản xuất sinh khối rễ tơ bằng cách điều chỉnh các thông số kỹ thuật trong bioreactor, bao gồm tốc độ sục khí, nhiệt độ, và thời gian nuôi cấy. Kết quả cho thấy, hệ thống bioreactor 20 lít có thể sản xuất sinh khối rễ tơ với hàm lượng alkaloid cao hơn so với rễ tự nhiên.

IV. Ứng dụng công nghệ sinh học

Nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ sinh học trong việc nuôi cấy rễ tơ cây bá bệnh để thu nhận các hợp chất thứ cấp có giá trị dược liệu. Các phương pháp như chiết xuất dược liệu, hóa học thực vật, và quy trình lên men được sử dụng để phân lập và đánh giá các alkaloid. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ thảo dược.

4.1. Chiết xuất dược liệu

Quá trình chiết xuất dược liệu từ rễ tơ cây bá bệnh được thực hiện bằng các phương pháp sắc ký và phân tích hóa học. Các alkaloid được phân lập và đánh giá hoạt tính sinh học, mở ra tiềm năng ứng dụng trong sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng.

4.2. Hóa học thực vật

Nghiên cứu hóa học thực vật tập trung vào việc xác định cấu trúc hóa học của các alkaloid từ rễ tơ cây bá bệnh. Các phương pháp như NMRHPLC được sử dụng để phân tích và xác định cấu trúc của các hợp chất này.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây Bá bệnh 1. Đặc điểm sinh học và phân bố Bá bệnh, còn gọi là mật nhân, bách bệnh, mật nhơn, bá bịnh có tên khoa học là Eurycoma longifolia Jack, thuộc họ Simaroubaceae. Phân bố phổ biến nhất ở Miền Trung, cây mọc ở ven rừng còi Kon tum, từ Đồng Nai đến Phú Quốc, cây cũng được tìm thấy tại Vườn quốc gia Bái Tử Long, mọc tự nhiên ở hầu hết các diện tích đất rừng tại đây [1].

Ngoài ra, cây còn có ở một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Lào, Campuchia và Philippines và vùng ranh giới Ấn Độ - Trung Quốc. Phân loại Phân loại Giới: Plantae Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Lớp:Magnoliopsida Bộ: Sapindales Bộ: Sapindales Họ: Simaroubaceae Họ: Simaroubaceae Chi: Eurycoma Chi: Eurycoma Loài: Longifoloa Loài: Longifolia A B C D A A – Cây; B - Hoa C - Quả; D - rễ BáA bệnh (Eurycoma longifolia Jack) Hình 1. Hình thái của cây Bá bệnh (Eurycoma longifolia Jack) A-Cây; B-Hoa; C-Quả; D-Rễ Về đặc điểm hình thái thực vật, Bá bệnh là loại cây gỗ nhỏ, thân nhỏ, cao 2-8 m ít phân cành, lúc nhỏ ít khi có nhánh, vỏ và rễ rất đắng. Lá dài, gồm hơn 10 cặp lá chét, mọc đối, hình bầu dục, cuống lá rất ngắn, gốc lá thuôn, đầu nhọn, mặt trên bóng, mặt dưới có lông màu xám.

Hoa chùm kép mọc ở thân hoặc đầu cành, hoa màu vàng, ra hoa vào tháng 3-11, 5 cánh hoa, đài hoa có 5-6 lá đài hình tam giác, 5 tiểu nhuỵ. Quả hình trứng dài 1-2 cm, rộng 0,5- 1cm, vỏ nhẵn có rãnh dọc, khi chín quả màu đỏ 5 sẫm chứa 1 hạt. Cây Bá bệnh non cần nhiều ánh sáng để sinh trưởng. Cây có dạng rễ chùm, lan rộng bám chặt vào đất.

Cây thường mọc ở vùng đồi núi có sườn dốc cao hơn mực nước biển chừng 700 m, vùng đất cát có tính axít, nghèo chất dinh dưỡng mọc dưới tán cây, thích hợp ở những nơi có nhiệt độ trung bình 250C và độ ẩm khoảng 86% mọc trong các khu rừng ven bờ biển hoặc rừng nguyên sinh, rừng tái sinh và các khu rừng hỗn tạp, rừng thưa, cây ưa axít và đất cát ở độ cao khoảng 700 m so với mực nước biển [1].2 Thành phần hoá học và hoạt tính sinh học các alkaloid của cây Bá bệnh Với việc được sử dụng khá phổ biến và hiệu quả trong y học cổ truyền, cây Bá bệnh đã sớm được các nhà khoa học trên thế giới để ý. Từ cây này, rất nhiều các hợp chất sinh học thứ cấp đã được tách chiết, tinh sạch, sàng lọc hoạt tính và nhiều trong số chúng có hoạt tính tốt, hứa hẹn khả năng được áp dụng vào thực tiễn. Các hoạt tính thường được thăm dò là: hoạt tính gây độc với các tế bào ung thư, hoạt tính kháng viêm, khả năng chống các gốc oxy hóa… Ngoài ra, tùy theo những tác dụng của loài trong y học dân gian, tùy theo tính chất của các chất, người ta có thể thăm dò các hoạt tính khác như: tính tăng cường sinh lực cho nam giới, ức chế phóng xạ, chống tiểu đường… Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu về những hoạt tính sinh học của các hợp chất alkaloid đã được tách từ loài cây Bá bệnh này. Năm 2004, Kuo và cs đã tách được một số hợp chất từ rễ cây Bá bệnh E.

Trong đó, có alkaloid 9-methoxycanthin-6-one (1) và canthin-6-one (2) đã chứng minh độc tính mạnh đối với A-549 và các dòng tế bào MCF-7 [2]. longifolia, Tran Thi Van Anh và cs đã tách được một chất mới eurycomalide C cùng với 27 hợp chất đã biết bao gồm 11 quassinoids, 6 alkaloids, 2 coumarins, 1 squalene derivative, 1 triterpenoid, and 6 phenolic. Các hợp chất 6 alkaloid 9-methoxycanthin-6-one (1); 9-hydroxycanthin-6-one (3); 1- methoxycarbonyl-β-carboline (4); 9,10-dimethoxycanthin-6-one (5) thể hiện là chất ức chế NF-κB mạnh, với giá trị IC50 lần lượt là 29,3; 3,8; 7,4; 19,5 µM [3]. (3) (4) (5) Ba chất mới n-pentyl-b-Carboline-1-propionate (6), 5-hydroxymethyl-9- methoxycanthin-6-one (7), 1-hydroxy-9-methoxycanthin-6-one (8) và các chất alkaloid cũ 9-methoxycanthin-6-one (1), canthin-6-one (2), canthin-6-one 9-O-b- glucopyranoside (9), 9-mehthoxycanthin-6-one 3N-oxide (10), b-carboline-1- propionic acid (11), 7-methoxy-b-carboline-1-propionic acid (12) được phân lập từ rễ của E.

Các hợp chất này đã được sàng lọc trong in vitro gây độc tế bào ung thư và chống sốt rét kết quả cho thấy chất (1) và (2) gây độc tính tế bào đáng kể chống lại ung thư phổi ở người (A-549) và ung thư vú ở người (MCF-7) đạt giá trị IC50 lần lượt với các dòng tế bào trên là chất (1) (<2,5 và 4,5 µg/ml); chất (2) (3,6 và 7,3 µg/ml). (6) (7) (8) (9) 7 (10) (11) (12) K Miyake và cs, năm 2010 đã phân lập được hai loại alkaloid canthin-6-one mới là 4,9-dimethoxycanthin-6-one (13) và 10-hydroxy-11-methoxycanthin-6-one (2) cùng với 37 hợp chất đã biết từ thân cây Bá bệnh. Tất cả các chất phân lập được đánh giá hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế bào sợi HT-1080 của người. Trong số đó, có hai alkaloid 9,10-dimethoxycanthin-6-one (14), 10-hydroxy-9- methoxycanthin-6-one (15) có hoạt tính gây độc tế bào đạt giá trị IC50 lần lượt là 5,0 và 7,2 µM [5].

(13) (14) (15) Trong một nghiên cứu khác của K Mitsunaga và cs năm 1994, các chất alkaloid phân lập từ vỏ và thân cây E. longifolia bao gồm: chất mới canthin-6-one (2), 9,10- dimethoxycanthin-6-one (14), 10-hydroxy-9-methoxycanthin-6-one (15), 11- hydroxy-10-methoxycanthin-6-one (16); 5,9-dimethoxycanthin-6-one (17) và 9- methoxy-3-methylcanthin-5,6-dione (18). Cấu trúc của chúng được xác định bằng phương pháp phổ cộng hưởng từ 1 chiều và 2 chiều NMR [6]. (16) (17) (18) 8 LB Kardono và cs 1991, tiến hành tách chiết rễ của cây Bá bệnh được thu thập ở Kalimantan, Indonesia.

Kết quả thu được bốn alkaloid canthin-6-one là 9- methoxycanthin-6-one (1), 9-methoxycanthin-6-one-Noxide (19), 9-hydroxycanthin- 6-one (3), b-carboline-1-propionic axit (20). Các hợp chất này được đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư vú, đại tràng, u xơ, phổi, khối u ác tính, KB và KB-VI. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các alkaloid từ (1), (3), (19) có hoạt động với tất cả các dòng tế bào được kiểm tra ngoại trừ dòng tế bào KB-V1. Tác dụng dược lý của cây Bá bệnh Bá bệnh là một cây có giá trị phong phú về thành phần hoác học cũng như hoạt tính sinh học.1 thể hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của các chất phân lập từ cây này.

Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của từng bộ phận cũng như cao chiết tổng của cây như: Cao chiết cây Bá bệnh có khả năng tăng cường sức khoẻ tình dục cho nam giới, kích thích cơ thể tăng tiết hormon giới tính nam (testosteron) một cách tự nhiên, duy trì sự hưng phấn và phong độ tình dục ở nam giới, ngăn chặn các dấu hiệu suy giảm khi bước vào tuổi trung niên [8-12]. Cao chiết Bá bệnh được sử dụng phổ biến cho chống sốt rét và có tác dụng tốt chống lại P. Cao chiết Bá bệnh có tác dụng chống tăng sinh các dòng tế bào ung thư khác nhau của người, cũng như các khối u rắn, bao gồm ung thư phổi, ung thư vú và cổ tử cung [15, 16]. Lá và rễ cây Bá bệnh đã được dùng để kiểm soát đường huyết [17].

Chiết xuất từ rễ Bá bệnh làm tăng độ nhạy cảm insulin thông qua việc tăng cường sự hấp thu glucose nhiều hơn 200 % tại 50 mg/ml và ức chế sự tích tụ lipid, cho thấy Bá bệnh 9 ngăn chặn sản xuất lipid sẽ cung cấp thêm các lợi ích trong điều trị bệnh tiểu đường [18]. Lá và rễ cây Bá bệnh đã được dùng để kiểm soát đường huyết. Nhóm của Husen đã thử dịch chiết nước của rễ Bá bệnh ở 3 liều (50; 100 và 150 mg/kg) theo mô hình Steptozotocin trên chuột bình thường và chuột có đường huyết cao. Kết quả cho thấy ở nồng độ 150 mg/kg cao nước rễ Bá bệnh có khả năng làm hạ đường huyết ở lô thử và không gây giảm có ý nghĩa ở lô chứng [17].

Các thành phần khác của Bá bệnh như alkaloids và triterpenes, cũng có thể làm giảm mất xương và duy trì các tỷ lệ hình thành xương [19]. Cao chiết rễ Bá bệnh cho tác dụng tăng androgenic (chống loãng xương và có khả năng thay thế cho testosterol) [20]. Do vậy, Bá bệnh có thể dùng như một liệu pháp thay thế triển vọng ở người loãng xương do thiếu hụt hay suy giảm androgen.Các thành phần hoá học được phân lập từ cây Bá bệnh và tác dụng dược lý của chúng [21] Bộ Các hợp chất hoá học phận Tác dụng dược lý Eurycomanone (C20) Tăng sản xuất testosterone 13a,21-Dihydroeurycomanone Cải thiện tinh trùng. 15-Acetyl-13a (21)-epoxyeurycomanone Thuốc chống sốt rét chống lại P.

Chất ức chế NF- 12,15-Diacetyl-13a(21)- kB. Chống Estrogen epoxyeurycomanone Eurycomanol (C20) Eurycomanol-2-O-b-D-glucoside 13b,18-Dihydroeurycomanol Rễ Thuốc chống sốt rét chống lại P. 13b,21-Dihydroxyeurycomanol falciparum 5a,14b,15b-Trihydroxyklaineanone 11-Dehydroklaineanone 12-epi-11-Dehydroklaineanone 10 14,15b-Dihydroxyklaineanone Lá, Gây độc tế bào ung thư phổi ở 15b-Hydroxyklaineanone rễ người (A-549) và ung thư vú (MCF - 7) Chất ức chế NF-kB Laurycolactones A and B (C18) Rễ Gây độc tế bào HT 1080 Eurycomalactone (C19) Gây độc tế bào ung thư phổi ở 6a-Hydroxyeurycomalactone người (A-549) và ung thư vú 7a-Hydroxyeurycomalactone (MCF - 7) và ung thư dạ dày 5,6-Dehydroeurycomalactone Rễ (MGC - 803). Gây độc tế bào Eurycomadilactone (C20) HT 1080 của người.

Thuốc 5-iso-Eurycomadilactone chống sốt rét chống lại P. 13-epi- Eurycomadilactone falciparum Eurycomalides A and B (C19) Gây độc tế bào ung thư phổi ở Eurycomalide C người (A-549) và ung thư vú Eurycomalide D Rễ (MCF - 7). Chất ức chế NF-kB Gây độc tế bào HT 1080 của Longilactone (C19) người. Các hợp chất có khả 6-Dehydroxylongilactone Lá, năng chống u bướu, kháng lại 11-Dehydroklaineanone rễ tĩnh mạch và chống lại ký sinh trùng.

Chất ức chế NF-kB Eurycolactone A(C20) Eurycolactone B(C18) Eurycolactone D (C18) Eurycolactones E, F (C19) Rễ Gây độc tế bào HT 1080 của Cytotoxicity against human HT1080 người. Chất ức chế NF-kB NF-kB inhibitor [42,44,45,51,74] Eurylactones A and B (C18) Eurylactones E, F and G (C19) Canthin-6-one alkaloids Chống ung thư, chống sốt rét, 9-Methoxycanthin-6-one chống HIV và chống tiểu 11 9-Hydroxycanthin-6-one đường. Hoạt tính kháng viêm và 9-Methoxycanthin-6-one-N-oxide kích thích sự ham muốn 9-Hydroxycanthin-6-one-N-oxide Hoạt tính ức chế phóng xạ, và 1-Hydroxy-9-methoxycanthin-6-one Vỏ, gây độc tế bào. Gây độc tế bào 5-Hydroxymethyl-9-methoxycanthin-6- thân, ung thư phổi ở người (A-549) 10-Hydroxycanthin-6-one rễ và ung thư vú (MCF-7) 10-Hydroxy-9-methoxycanthin-6-one Thuốc chống sốt rét chống lại P.

10-Hydroxy-11-methoxycanthin-6-one falciparum. Hoạt tính chống 11-Hydroxy-10-methoxycanthin-6-one loét. Chất ức chế NF-kB. Hoạt 4,9-Dimethoxycanthin-6-one tính gây độc tế bào chống lại 5,9-Dimethoxycanthin-6-one các loại tế bào ung thư của 9,10-Dimethoxycanthin-6-one người (vú, ruột, phổi, u hắc tố, 9-Methoxy-3-methylcanthin-5,6-dione KB) và bệnh bạch cầu lymphocytic (P-388) ở chuột b-Carboline alkaloids 7-Hydroxy-b-carboline-1-propionic acid Thuốc chống sốt rét chống lại P.

1-Methoxymethyl-b-carboline falciparum. Hiệu quả chống n -pPentyl b-carboline-1-propionate Rễ viêm thông qua ức chế con đường NF-kB b-Cararboline-1-propionic acid b-7-Methoxycarboline-1-propionic acid Squalene-type triterpenes Eurylene Độc tế bào 14-Deacetyleurylene Thân Hoạt tính độc tế bào KB Longilene peroxide Teurilene Chống loét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tăng cường tích lũy alkaloid từ rễ tơ cây bá bệnh Eurycoma Longifolia Jack trong bioreactor 20 lít" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc tối ưu hóa quy trình sản xuất alkaloid từ cây bá bệnh, một loại cây có giá trị dược liệu cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thu hoạch alkaloid mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất dược phẩm. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về quy trình bioreactor, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy alkaloid, và tiềm năng ứng dụng của cây bá bệnh trong y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến chất lượng nước và các vấn đề môi trường, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về các giải pháp nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu, hãy xem tài liệu Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực y học và môi trường.