Luận án tiến sĩ: Tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại tỉnh Nghệ An, đảm bảo phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

240
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước và hoạt động khoáng sản

Quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản một cách hiệu quả và bền vững. Tại Nghệ An, việc quản lý này càng trở nên cấp thiết do sự đa dạng và phong phú của các loại khoáng sản. Nghiên cứu này nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đặc biệt là trong bối cảnh các vấn đề về môi trường và xã hội ngày càng gia tăng. Các chính sách khoáng sản hiện hành cần được rà soát và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản dựa trên các nguyên tắc cơ bản của quản lý tài nguyên và kinh tế. Các nguyên tắc này bao gồm việc đảm bảo sự công bằng trong phân phối lợi ích, bảo vệ môi trường, và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Tại Nghệ An, việc áp dụng các nguyên tắc này cần được thực hiện một cách linh hoạt, phù hợp với đặc thù địa phương và các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

1.2. Kinh nghiệm quốc tế và trong nước

Các nghiên cứu về quản lý khoáng sản trên thế giới và trong nước đã chỉ ra nhiều bài học quý giá. Ví dụ, việc áp dụng Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng (EITI) đã giúp nhiều quốc gia cải thiện hiệu quả quản lý và tăng cường sự minh bạch trong hoạt động khoáng sản. Tại Việt Nam, các chính sách khoáng sản cần được học hỏi và áp dụng các kinh nghiệm này để nâng cao hiệu quả quản lý.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại Nghệ An

Nghệ An là một trong những tỉnh có tiềm năng khoáng sản lớn, với nhiều loại khoáng sản đa dạng. Tuy nhiên, việc quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại đây vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề như khai thác trái phép, ô nhiễm môi trường, và sự thiếu đồng bộ trong các chính sách khoáng sản đang là những thách thức lớn. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.

2.1. Đặc điểm tài nguyên khoáng sản tại Nghệ An

Nghệ An sở hữu nhiều loại khoáng sản quan trọng như khoáng sản nhiên liệu, kim loại, và vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng các tài nguyên này chưa được quản lý một cách hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí và ô nhiễm môi trường. Cần có các biện pháp quản lý tài nguyên chặt chẽ hơn để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.2. Thực trạng quản lý và khai thác khoáng sản

Thực trạng quản lý khoáng sản tại Nghệ An cho thấy nhiều bất cập trong việc thực thi các quy định khoáng sản. Các hoạt động khai thác trái phép, không tuân thủ quy trình kỹ thuật, và thiếu sự giám sát chặt chẽ đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật.

III. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản

Để tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại Nghệ An, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ việc hoàn thiện chính sách, tăng cường năng lực quản lý, đến việc nâng cao ý thức của các bên liên quan. Các giải pháp này cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản một cách bền vững.

3.1. Hoàn thiện chính sách và quy định

Cần rà soát và điều chỉnh các chính sách khoáng sản hiện hành để phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Việc xây dựng các quy định mới cần dựa trên các nguyên tắc công bằng, minh bạch, và bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong việc thực thi chính sách.

3.2. Tăng cường năng lực quản lý và giám sát

Việc tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản đòi hỏi nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý. Cần đầu tư vào đào tạo và phát triển kỹ năng cho các cán bộ, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật. Các công cụ giám sát hiện đại cũng cần được áp dụng để nâng cao hiệu quả quản lý.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan và phương pháp nghiên cứu đề tài Luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản. Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án Quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoáng sản (HĐKS) là một vấn đề rộng, bao gồm nhiều nội dung công việc phải làm gắn liền với các giai đoạn từ thăm dò mỏ, đánh giá trữ lƣợng mỏ, đến cấp giấy phép, theo dõi quản lý hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Các công trình khoa học liên quan đến vấn đề này, bao gồm: 1. Các công trình nghiên cứu trong nước 1.

Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoáng sản 1) Đề tài “Nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ sửa đổi Luật Khoáng sản” [54], do TS. Lê Ái Thụ chủ nhiệm, năm 2010. Đề tài đã đƣa ra quan điểm về tài nguyên khoáng sản (TNKS): (1) Khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia đã đƣợc pháp luật khẳng định. Đã là tài sản, lại là tài sản quan trọng thì cần thiết phải đƣợc định giá khi giao tài sản đó cho ai đó sử dụng; (2) Hiện trong giá thành sản phẩm từ khoáng sản không có mục chi “nguyên liệu chính”.

So với các doanh nghiệp chế biến sẽ khó tạo đƣợc sân chơi công bằng giữa các doanh nghiệp; (3) Ngành công nghiệp khai khoáng của Việt Nam trải qua mấy chục năm phát triển, đã có đƣợc nhiều kinh nghiệm trong quản lý sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, trong thời kỳ hội nhập thế giới, cần đổi mới quan điểm quản lý TNKS và quản lý HĐKS theo hƣớng phát triển bền vững. Đề tài chỉ ra, việc định đƣợc giá TNKS sẽ đáp ứng đƣợc các yêu cầu sau của công tác quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực khoáng sản: (1) Bảo đảm đƣợc nguồn thu hợp lý của ngân sách nhà nƣớc; (2) Tạo đƣợc môi trƣờng cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp HĐKS; (3) Giảm đƣợc các khoản chi phí quản lý nhà nƣớc trong việc đo đạc, kiểm kê trữ lƣợng khoáng sản còn lại; (4) Giảm đƣợc đáng kể tổn thất TNKS có hạn, không tái tạo của đất nƣớc; (5) Tăng đƣợc đáng kể sản phẩm cho xã hội nhờ tận thu đƣợc tối đa TNKS đã đƣợc định giá khi giao cho doanh nghiệp khai thác; (6) Giảm đƣợc đáng kể các hiện tƣợng tiêu cực dễ phát sinh trong quá trình thực hiện công tác quản lý. Đồng thời, đề tài đƣa ra một số kiến nghị lên Quốc hội 10 về vấn đề quản lý HĐKS nhƣ sau: (1) Bảo đảm tính đúng, tính đủ đầu vào để xác định đƣợc đúng đắn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN khai thác khoáng sản; (2) Đẩy mạnh cổ phần hóa các DN khai thác khoáng sản; (3) Xác định giá trị của doanh nghiệp HĐKS khi bán DN cần gắn với giá trị mỏ khoáng sản.

2) Bài báo “Sở hữu TNKS và vấn đề cần hoàn thiện” của Lê Thanh Vân [68]. Bài báo đã chỉ ra rằng, hiện nay, trên thế giới đang tồn tại hai quan niệm cơ bản về hình thức sở hữu TNKS và gắn với nó là hai hình thức quản lý HĐKS, đó là: (1) Quan điểm coi “khoáng sản thuộc về chủ đất”và quản lý HĐKS tuân theo hệ thống quy định riêng của chủ sở hữu, địa phƣơng.Theo đó, TNKS là một phần không tách rời đất đai, bất kể khoáng sản đó có trên mặt đất hay trong lòng đất. Quyền sở hữu khoáng sản thuộc tƣ nhân hoặc chính quyền bang. Quyền HĐKS đƣợc cấp cho nhà đầu tƣ khoáng sản thông qua các thỏa thuận cho thuê mỏ; (2) Quan điểm coi “khoáng sản thuộc về Nhà nƣớc” và quản lý HĐKS tuân theo hệ thống pháp luật quy định chung của quốc gia.

Quan điểm này xác nhận quyền sở hữu toàn dân, đại diện bởi các cơ quan chính quyền đối với khoáng sản. Chính quyền cấp phép cho các nhà đầu tƣ thăm dò, khai thác khoáng sản qua hợp đồng. Nhà nƣớc nắm giữ quyền kiểm soát TNKS và căn cứ theo các tiêu chí cụ thể trong Luật Khoáng sản hay hợp đồng khoáng sản để cấp quyền khai thác khoáng sản cho các cá nhân, tổ chức có HĐKS và kiểm tra, thu thuế, phí. 3) Bài báo “Định hướng phát triển kinh tế xanh trong ngành khai khoáng” của đồng tác giả Lê Thành Văn, Nguyễn Đình Hòa, năm 2012 [69].

Bài báo chỉ ra thực trạng chung của ngành khai khoáng Việt Nam (bao gốm cả dầu khí) đóng góp khoảng 10-11% GDP và khoảng 28% nguồn thu NSNN. Tuy vậy, việc khai thác TNKS ở Việt Nam trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, đó là: Tổn thất và lãng phí tài nguyên còn cao, chất lƣợng môi trƣờng đất và nƣớc thải tại những nơi có HĐKS bị giảm sút nhiều, một số loại khoáng sản có khả năng phát tán phóng xạ rất lớn, gây nguy hại cho sức khỏe ngƣời lao động và dân cƣ lân cận. Từ đó, bài báo đề xuất một số chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trong HĐKS, gồm: (1) Chính sách về giá: thực hiện giá sản phẩm khoáng sản theo cơ chế thị trƣờng; (2) Chính sách về phí, thuế: thuế tài nguyên cần chuyển từ cách tính theo sản lƣợng khai thác sang tính theo trữ lƣợng khoáng sản đƣợc phê duyệt, tùy thuộc 11 vào loại hình khoáng sản; (3) Chính sách về sử dụng, xuất khẩu khoáng sản: phải chế biến sâu khoáng sản, cấm xuất khẩu khoáng sản thô, chỉ cho phép xuất khẩu các loại khoáng sản có trữ lƣợng dồi dào đảm bảo đáp ứng lâu dài nhu cầu trong nƣớc, hoặc các loại khoáng sản mà nhu cầu trong nƣớc chƣa có hoặc còn thấp; (4) Chính phủ cần ban hành quy chế xây dựng các trung tâm dự trữ khoáng sản đối với các loại khoáng sản chƣa có điều kiện chế biến sâu; (5) Cần bổ sung các điều kiện và cam kết về chế biến trƣớc khi cấp giấy phép khai thác. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoáng sản nói chung Báo cáo “Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng TNKS trong bối cảnh phát triển bền vững ở Việt Nam” do Viện CODE xuất bản, năm 2012 [70].

Báo cáo đã phân tích thực trạng quản lý và sử dụng khoáng sản Việt Nam: Tình trạng khai thác TNKS tràn lan và vô tổ chức ở nhiều nơi đã không những làm thất thoát lớn nguồn TNKS mà còn ảnh hƣởng xấu đến kết cấu hạ tầng, làm xuống cấp trầm trọng hệ thống đƣờng xá, cầu cống, phá hủy môi trƣờng sống, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội cho địa phƣơng nơi có mỏ. Mặt khác, vì chạy theo lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp không muốn đầu tƣ chế biến sâu, không quan tâm đến tận thu khoáng sản đi kèm và xử lý phế thải. và tình trạng không minh bạch vẫn diễn ra tạo ra sự bất công. Vì vậy, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình cần đƣợc nâng cao để quản lý hiệu quả hơn nguồn TNKS của đất nƣớc.

Để làm đƣợc điều này, trƣớc hết Chính phủ cần giao cho một tổ chức xã hội dân sự độc lập xây dựng báo cáo về thực trạng khai thác và quản lý khoáng sản ở Việt Nam, với những kiến nghị cải cách theo một lộ trình thích hợp bao gồm sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản, điều chỉnh quy định phân cấp về cấp phép khai thác và quản lý khoáng sản… 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến từng nội dung chi tiết quản lý nhà nƣớc về HĐKS * Về công tác quy hoạch, kế hoạch hoạt động khoáng sản Báo cáo “Quy hoạch, quản lý khai thác khoáng sản để bảo vệ môi trường bền vững tỉnh Quảng Ninh”, năm 2016 [43]. Trong báo cáo này nêu tỉnh Quảng Ninh đã triển khai xây dựng hàng loạt quy hoạch khoáng sản nhƣ Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản: Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng 12 khoáng sản làm VLXD thông thƣờng và khoáng sản phân tán nhỏ lẻ đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030… Đặc biệt, UBND Tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch vùng cấm hoạt động khai thác khoáng sản, khu vực tạm thời cấm HĐKS trên địa bàn. Theo đó, duy trì 5 khu vực cấm và 4 khu vực hạn chế HĐKS than, đồng thời bổ sung thêm 17 khu vực khoanh định cấm HĐKS với tổng diện tích trên 181.000ha, khoanh định 3 khu vực tạm thời cấm HĐKS với tổng diện tích gần 40.

Báo cáo cho rằng, việc phê duyệt các quy hoạch khoáng sản sẽ là căn cứ pháp lý cho công tác quản lý nhà nƣớc về khoáng sản trên địa bàn, ngăn chặn, xử lý và chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. * Về đánh giá tài nguyên khoáng sản phục vụ cho quy hoạch khai thác sử dụng, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, đấu giá quyền khai thác khoáng sản 1) Đề tài cấp Bộ “Địa tô mỏ” do tác giả Lại Kim Bảng làm chủ nhiệm, năm 1996 [1], và đề tài “Xác định địa tô mỏ than” do tác giả Nguyễn Tiến Chỉnh làm chủ nhiệm, năm 1999 [4]. Cả 2 đề tài này đã bàn tới vấn đề cần xác định giá trị mỏ khoáng sản qua địa tô mỏ; Đƣa ra quan điểm và công thức xác định địa tô mỏ và minh chứng bằng việc áp dụng vào tính địa tô mỏ một số mỏ than vùng Quảng Ninh. Trong đó, tác giả Nguyễn Tiến Chỉnh đã đƣa ra quan điểm và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nƣớc cần vận dụng địa tô mỏ vào làm cơ sở để tính thuế tài nguyên ở Việt Nam.

NCS cho rằng quan điểm và kiến nghị đó có căn cứ khoa học và thực tiễn, phù hợp với đối tƣợng đánh thuế tài nguyên của khoáng sản là lợi nhuận siêu ngạch (tức tô mỏ) đƣợc tạo ra bởi điều kiện tự nhiên thuận lợi của mỏ khoáng sản (chất lƣợng và trữ lƣợng khoáng sản, điều kiện khai thác, vị trí địa lý, v. Chính các yếu này làm cho các mỏ khác nhau có tô mỏ khác nhau, dẫn đến mức thuế suất thuế tài nguyên cũng khác nhau. Tuy nhiên, theo ý kiến của NCS nên thay cụm từ “địa tô mỏ” bằng “tô mỏ” thì chuẩn xác, hợp lý hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại Nghệ An là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản tại tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu này đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo khai thác bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và tăng cường sự minh bạch trong quản lý. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, chuyên gia và những người quan tâm đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ phân tích tình hình khai thác nguồn lực tài chính đất đai tại quận liên chiểu thành phố đà nẵng, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn sâu sắc về việc quản lý và khai thác tài nguyên đất đai. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý đất đai đánh giá công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại huyện giồng trôm tỉnh bến tre cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các chính sách liên quan đến quản lý đất đai và tái định cư. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ quy lý năng lượng energyfoodwater security nexus in viet nam mang đến cái nhìn tổng thể về an ninh năng lượng và tài nguyên, một chủ đề có liên quan mật thiết đến quản lý khoáng sản.

Hãy khám phá các tài liệu này để có thêm thông tin chi tiết và góc nhìn đa chiều về các vấn đề quản lý tài nguyên và môi trường.