Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan và phương pháp nghiên cứu đề tài Luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản. Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án Quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoáng sản (HĐKS) là một vấn đề rộng, bao gồm nhiều nội dung công việc phải làm gắn liền với các giai đoạn từ thăm dò mỏ, đánh giá trữ lƣợng mỏ, đến cấp giấy phép, theo dõi quản lý hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Các công trình khoa học liên quan đến vấn đề này, bao gồm: 1. Các công trình nghiên cứu trong nước 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoáng sản 1) Đề tài “Nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ sửa đổi Luật Khoáng sản” [54], do TS. Lê Ái Thụ chủ nhiệm, năm 2010. Đề tài đã đƣa ra quan điểm về tài nguyên khoáng sản (TNKS): (1) Khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia đã đƣợc pháp luật khẳng định. Đã là tài sản, lại là tài sản quan trọng thì cần thiết phải đƣợc định giá khi giao tài sản đó cho ai đó sử dụng; (2) Hiện trong giá thành sản phẩm từ khoáng sản không có mục chi “nguyên liệu chính”.
So với các doanh nghiệp chế biến sẽ khó tạo đƣợc sân chơi công bằng giữa các doanh nghiệp; (3) Ngành công nghiệp khai khoáng của Việt Nam trải qua mấy chục năm phát triển, đã có đƣợc nhiều kinh nghiệm trong quản lý sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, trong thời kỳ hội nhập thế giới, cần đổi mới quan điểm quản lý TNKS và quản lý HĐKS theo hƣớng phát triển bền vững. Đề tài chỉ ra, việc định đƣợc giá TNKS sẽ đáp ứng đƣợc các yêu cầu sau của công tác quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực khoáng sản: (1) Bảo đảm đƣợc nguồn thu hợp lý của ngân sách nhà nƣớc; (2) Tạo đƣợc môi trƣờng cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp HĐKS; (3) Giảm đƣợc các khoản chi phí quản lý nhà nƣớc trong việc đo đạc, kiểm kê trữ lƣợng khoáng sản còn lại; (4) Giảm đƣợc đáng kể tổn thất TNKS có hạn, không tái tạo của đất nƣớc; (5) Tăng đƣợc đáng kể sản phẩm cho xã hội nhờ tận thu đƣợc tối đa TNKS đã đƣợc định giá khi giao cho doanh nghiệp khai thác; (6) Giảm đƣợc đáng kể các hiện tƣợng tiêu cực dễ phát sinh trong quá trình thực hiện công tác quản lý. Đồng thời, đề tài đƣa ra một số kiến nghị lên Quốc hội 10 về vấn đề quản lý HĐKS nhƣ sau: (1) Bảo đảm tính đúng, tính đủ đầu vào để xác định đƣợc đúng đắn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN khai thác khoáng sản; (2) Đẩy mạnh cổ phần hóa các DN khai thác khoáng sản; (3) Xác định giá trị của doanh nghiệp HĐKS khi bán DN cần gắn với giá trị mỏ khoáng sản.
2) Bài báo “Sở hữu TNKS và vấn đề cần hoàn thiện” của Lê Thanh Vân [68]. Bài báo đã chỉ ra rằng, hiện nay, trên thế giới đang tồn tại hai quan niệm cơ bản về hình thức sở hữu TNKS và gắn với nó là hai hình thức quản lý HĐKS, đó là: (1) Quan điểm coi “khoáng sản thuộc về chủ đất”và quản lý HĐKS tuân theo hệ thống quy định riêng của chủ sở hữu, địa phƣơng.Theo đó, TNKS là một phần không tách rời đất đai, bất kể khoáng sản đó có trên mặt đất hay trong lòng đất. Quyền sở hữu khoáng sản thuộc tƣ nhân hoặc chính quyền bang. Quyền HĐKS đƣợc cấp cho nhà đầu tƣ khoáng sản thông qua các thỏa thuận cho thuê mỏ; (2) Quan điểm coi “khoáng sản thuộc về Nhà nƣớc” và quản lý HĐKS tuân theo hệ thống pháp luật quy định chung của quốc gia.
Quan điểm này xác nhận quyền sở hữu toàn dân, đại diện bởi các cơ quan chính quyền đối với khoáng sản. Chính quyền cấp phép cho các nhà đầu tƣ thăm dò, khai thác khoáng sản qua hợp đồng. Nhà nƣớc nắm giữ quyền kiểm soát TNKS và căn cứ theo các tiêu chí cụ thể trong Luật Khoáng sản hay hợp đồng khoáng sản để cấp quyền khai thác khoáng sản cho các cá nhân, tổ chức có HĐKS và kiểm tra, thu thuế, phí. 3) Bài báo “Định hướng phát triển kinh tế xanh trong ngành khai khoáng” của đồng tác giả Lê Thành Văn, Nguyễn Đình Hòa, năm 2012 [69].
Bài báo chỉ ra thực trạng chung của ngành khai khoáng Việt Nam (bao gốm cả dầu khí) đóng góp khoảng 10-11% GDP và khoảng 28% nguồn thu NSNN. Tuy vậy, việc khai thác TNKS ở Việt Nam trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, đó là: Tổn thất và lãng phí tài nguyên còn cao, chất lƣợng môi trƣờng đất và nƣớc thải tại những nơi có HĐKS bị giảm sút nhiều, một số loại khoáng sản có khả năng phát tán phóng xạ rất lớn, gây nguy hại cho sức khỏe ngƣời lao động và dân cƣ lân cận. Từ đó, bài báo đề xuất một số chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trong HĐKS, gồm: (1) Chính sách về giá: thực hiện giá sản phẩm khoáng sản theo cơ chế thị trƣờng; (2) Chính sách về phí, thuế: thuế tài nguyên cần chuyển từ cách tính theo sản lƣợng khai thác sang tính theo trữ lƣợng khoáng sản đƣợc phê duyệt, tùy thuộc 11 vào loại hình khoáng sản; (3) Chính sách về sử dụng, xuất khẩu khoáng sản: phải chế biến sâu khoáng sản, cấm xuất khẩu khoáng sản thô, chỉ cho phép xuất khẩu các loại khoáng sản có trữ lƣợng dồi dào đảm bảo đáp ứng lâu dài nhu cầu trong nƣớc, hoặc các loại khoáng sản mà nhu cầu trong nƣớc chƣa có hoặc còn thấp; (4) Chính phủ cần ban hành quy chế xây dựng các trung tâm dự trữ khoáng sản đối với các loại khoáng sản chƣa có điều kiện chế biến sâu; (5) Cần bổ sung các điều kiện và cam kết về chế biến trƣớc khi cấp giấy phép khai thác. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung quản lý nhà nƣớc về hoạt động khoáng sản nói chung Báo cáo “Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng TNKS trong bối cảnh phát triển bền vững ở Việt Nam” do Viện CODE xuất bản, năm 2012 [70].
Báo cáo đã phân tích thực trạng quản lý và sử dụng khoáng sản Việt Nam: Tình trạng khai thác TNKS tràn lan và vô tổ chức ở nhiều nơi đã không những làm thất thoát lớn nguồn TNKS mà còn ảnh hƣởng xấu đến kết cấu hạ tầng, làm xuống cấp trầm trọng hệ thống đƣờng xá, cầu cống, phá hủy môi trƣờng sống, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội cho địa phƣơng nơi có mỏ. Mặt khác, vì chạy theo lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp không muốn đầu tƣ chế biến sâu, không quan tâm đến tận thu khoáng sản đi kèm và xử lý phế thải. và tình trạng không minh bạch vẫn diễn ra tạo ra sự bất công. Vì vậy, vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình cần đƣợc nâng cao để quản lý hiệu quả hơn nguồn TNKS của đất nƣớc.
Để làm đƣợc điều này, trƣớc hết Chính phủ cần giao cho một tổ chức xã hội dân sự độc lập xây dựng báo cáo về thực trạng khai thác và quản lý khoáng sản ở Việt Nam, với những kiến nghị cải cách theo một lộ trình thích hợp bao gồm sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản, điều chỉnh quy định phân cấp về cấp phép khai thác và quản lý khoáng sản… 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến từng nội dung chi tiết quản lý nhà nƣớc về HĐKS * Về công tác quy hoạch, kế hoạch hoạt động khoáng sản Báo cáo “Quy hoạch, quản lý khai thác khoáng sản để bảo vệ môi trường bền vững tỉnh Quảng Ninh”, năm 2016 [43]. Trong báo cáo này nêu tỉnh Quảng Ninh đã triển khai xây dựng hàng loạt quy hoạch khoáng sản nhƣ Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản: Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng 12 khoáng sản làm VLXD thông thƣờng và khoáng sản phân tán nhỏ lẻ đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030… Đặc biệt, UBND Tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch vùng cấm hoạt động khai thác khoáng sản, khu vực tạm thời cấm HĐKS trên địa bàn. Theo đó, duy trì 5 khu vực cấm và 4 khu vực hạn chế HĐKS than, đồng thời bổ sung thêm 17 khu vực khoanh định cấm HĐKS với tổng diện tích trên 181.000ha, khoanh định 3 khu vực tạm thời cấm HĐKS với tổng diện tích gần 40.
Báo cáo cho rằng, việc phê duyệt các quy hoạch khoáng sản sẽ là căn cứ pháp lý cho công tác quản lý nhà nƣớc về khoáng sản trên địa bàn, ngăn chặn, xử lý và chấm dứt tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. * Về đánh giá tài nguyên khoáng sản phục vụ cho quy hoạch khai thác sử dụng, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, đấu giá quyền khai thác khoáng sản 1) Đề tài cấp Bộ “Địa tô mỏ” do tác giả Lại Kim Bảng làm chủ nhiệm, năm 1996 [1], và đề tài “Xác định địa tô mỏ than” do tác giả Nguyễn Tiến Chỉnh làm chủ nhiệm, năm 1999 [4]. Cả 2 đề tài này đã bàn tới vấn đề cần xác định giá trị mỏ khoáng sản qua địa tô mỏ; Đƣa ra quan điểm và công thức xác định địa tô mỏ và minh chứng bằng việc áp dụng vào tính địa tô mỏ một số mỏ than vùng Quảng Ninh. Trong đó, tác giả Nguyễn Tiến Chỉnh đã đƣa ra quan điểm và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nƣớc cần vận dụng địa tô mỏ vào làm cơ sở để tính thuế tài nguyên ở Việt Nam.
NCS cho rằng quan điểm và kiến nghị đó có căn cứ khoa học và thực tiễn, phù hợp với đối tƣợng đánh thuế tài nguyên của khoáng sản là lợi nhuận siêu ngạch (tức tô mỏ) đƣợc tạo ra bởi điều kiện tự nhiên thuận lợi của mỏ khoáng sản (chất lƣợng và trữ lƣợng khoáng sản, điều kiện khai thác, vị trí địa lý, v. Chính các yếu này làm cho các mỏ khác nhau có tô mỏ khác nhau, dẫn đến mức thuế suất thuế tài nguyên cũng khác nhau. Tuy nhiên, theo ý kiến của NCS nên thay cụm từ “địa tô mỏ” bằng “tô mỏ” thì chuẩn xác, hợp lý hơn.