Tổng quan luận án
Tài nguyên khoáng sản là tài sản công, nguồn lực đầu vào quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cung cấp nguyên liệu cho các ngành luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng, năng lượng và chế tạo. Do đặc tính tự nhiên hình thành qua lịch sử địa chất lâu dài, khoáng sản có vị trí phân bố cố định trong không gian, mang tính hữu hạn và hầu hết không có khả năng tái tạo. Việc khai thác quá mức không chỉ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên mà còn gây suy thoái môi trường và phát sinh nhiều hệ lụy xã hội. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã khẳng định: khoáng sản là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, đòi hỏi phải được điều tra, thăm dò, đánh giá trữ lượng và sử dụng hiệu quả. Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa trong Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Tỉnh Nghệ An sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng về chủng loại, bao gồm khoáng sản nhiên liệu, khoáng sản kim loại, khoáng sản nguyên liệu hóa và phân bón, khoáng sản gốm sứ, khoáng sản nguyên liệu kỹ thuật và đá quý, khoáng sản vật liệu xây dựng cùng nguồn nước khoáng. Sau hơn 20 năm thi hành Luật Khoáng sản qua các thời kỳ (năm 1996, 2005 và 2010), hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản tại Nghệ An đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn, cải thiện nguồn thu ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, hoạt động khoáng sản tại địa phương bộc lộ nhiều bất cập: tình trạng khai thác trái phép; khai thác không tuân thủ thiết kế kỹ thuật gây tai nạn lao động; không vận hành hệ thống xử lý chất thải làm ô nhiễm môi trường; vận chuyển khoáng sản quá tải trọng phá hủy hạ tầng giao thông; một số doanh nghiệp chưa hoàn thiện thủ tục thuê đất và ký quỹ môi trường nhưng vẫn khai thác; kết thúc khai thác không hoàn thổ hoặc hoàn thổ không đảm bảo yêu cầu. Lợi ích thu được chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp khai thác, trong khi nguồn thu ngân sách chưa tương xứng và cộng đồng địa phương phải gánh chịu các tác động tiêu cực về môi sinh. Thực trạng này xuất phát từ những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản ở cấp tỉnh.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở phạm vi vĩ mô toàn quốc hoặc nghiên cứu riêng lẻ từng loại khoáng sản, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, đồng bộ công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn cấp tỉnh như Nghệ An. Đặc biệt, việc áp dụng phương pháp định giá mỏ theo tô mỏ làm căn cứ đấu giá quyền khai thác và tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chưa được giải quyết thấu đáo trong điều kiện địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản tại Nghệ An và bối cảnh liên quan, đề xuất quan điểm, định hướng cùng các giải pháp có cơ sở khoa học và phù hợp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, góp phần khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội.
Các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước nhằm chỉ ra các khoảng trống khoa học cần giải quyết.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan thực tiễn trong và ngoài nước về quản lý nhà nước đối với hoạt động khoáng sản làm cơ sở phương pháp luận.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An, làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp cơ bản tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản.
- Phạm vi không gian: Hoạt động khoáng sản và công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2010–2016, cập nhật một số thông tin đến hết quý II năm 2017; đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Phạm vi nội dung: Công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản thuộc thẩm quyền của chính quyền tỉnh Nghệ An và một số nội dung liên quan thuộc thẩm quyền của các cơ quan trung ương theo Luật Khoáng sản năm 2010.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong nước, các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với khoáng sản tập trung vào nhiều nhóm nội dung:
- Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước: Đề tài của TS. Lê Ái Thụ (2010) về cơ sở khoa học sửa đổi Luật Khoáng sản đã khẳng định khoáng sản là tài sản quốc gia cần được định giá khi giao quyền sử dụng và chỉ ra sự thiếu hụt mục chi phí nguyên liệu chính trong giá thành sản phẩm khoáng sản. Bài báo của Lê Thanh Vân (2012) phân tích hai hình thức sở hữu khoáng sản trên thế giới: sở hữu của chủ đất và sở hữu của nhà nước. Bài viết của Lê Thành Văn và Nguyễn Đình Hòa (2012) đề xuất các chính sách phát triển kinh tế xanh trong khai khoáng, chuyển cách tính thuế tài nguyên từ sản lượng sang trữ lượng được phê duyệt và yêu cầu chế biến sâu, cấm xuất khẩu khoáng sản thô. Báo cáo của Viện CODE (2012) chỉ ra tình trạng khai thác khoáng sản dàn trải làm thất thoát tài nguyên, phá hủy hạ tầng và khuyến nghị nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình.
- Quy hoạch và bảo vệ khoáng sản: Báo cáo của tỉnh Quảng Ninh (2016) trình bày kinh nghiệm lập quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khoanh định các khu vực cấm và tạm thời cấm hoạt động khai thác than. Đề tài của Lại Hồng Thanh và Trịnh Xuân Hòa (2012) phân tích những lỗ hổng trong công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác và đề xuất các biện pháp phòng ngừa từ sớm.
- Đánh giá tài nguyên và tài chính khoáng sản: Đề tài của Lại Kim Bảng (1996) và Nguyễn Tiến Chỉnh (1999) đặt nền móng cho việc xác định địa tô mỏ làm cơ sở tính thuế tài nguyên than tại Quảng Ninh. Luận án của Phan Thị Thái (2005) nghiên cứu đánh giá giá trị kinh tế sa khoáng titan ven biển và xác định chỉ tiêu hàm lượng công nghiệp tối thiểu (Cmin). Luận án của Nguyễn Tiến Chỉnh (2010) xác định giá trị tự nhiên của mỏ và tô mỏ than phục vụ giao mỏ, cho thuê mỏ. Đề tài của Nguyễn Văn Thuyên và Nguyễn Chí Thực (2015) nghiên cứu đánh giá kinh tế tài nguyên đá vôi, titan và sắt laterit. Đề tài của Lê Ái Thụ (2008) nghiên cứu định giá khoáng sản theo địa tô. Đề tài của Nguyễn Văn Thuyên và Nguyễn Tất Trung (2012) xây dựng phương pháp tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Đề tài của Phan Thị Thái và Nguyễn Đức Trọng (2014) hệ thống hóa kinh nghiệm quốc tế về định giá mỏ dựa trên tô mỏ. Bài viết của Trần Thanh Thủy (2015) khuyến nghị quản lý nguồn thu tài chính từ khai khoáng để tái đầu tư bền vững. Bài báo của PGS. Nguyễn Cảnh Nam (2016) chỉ rõ những bất cập của Luật Thuế tài nguyên khi tính thuế theo sản lượng khai thác và áp khung thuế suất chưa hợp lý.
- Quản lý môi trường và tổn thất tài nguyên: Đặng Trung Thuận (2012) khảo sát tác động môi trường của hoạt động khai thác titan ven biển miền Trung. Luận án của Nguyễn Thị Kim Ngân (2012) nghiên cứu công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ngành than Quảng Ninh. Luận án của Đồng Thị Bích (2017) đề xuất các giải pháp kinh tế giảm tổn thất than hầm lò tại Tập đoàn Vinacomin.
Ngoài nước, các tài liệu được tác giả tổng hợp gồm:
- Chuẩn mực quản trị: Bộ Tiêu chuẩn EITI 2016 của Ban thư ký Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng (do PanNature biên dịch) đưa ra các yêu cầu minh bạch trong cấp phép, quản lý thuế và công khai danh tính chủ sở hữu thực sự. Tài liệu Khung quản trị công nghiệp khai thác khu vực ASEAN (2014) xác lập các nguyên tắc điều chỉnh ngành khai khoáng theo chuẩn mực quốc tế.
- Phương pháp định giá mỏ: Nghiên cứu của M. del Mar Rubio (Đại học Pompeu Fabra, Tây Ban Nha) so sánh 4 phương pháp ước lượng giá trị mỏ và tính khấu hao tài nguyên dài hạn (Giá trị hiện tại, Giá cuối cùng/Giá trị ròng, Chi phí sử dụng, Thu nhập). Hội đồng định giá mỏ Nam Phi (SAMVAL) phân loại 3 hướng tiếp cận định giá mỏ: dòng tiền, thị trường và chi phí.
- Tài chính và môi trường: Nghiên cứu của Marco Zaplan (2015) phân chia thuế suất khoáng sản của các nước thành 4 nhóm và phân tích chính sách thuế tài nguyên 5% doanh thu tại Philippines. Báo cáo của Emanuel Bria (2016) về chế độ tài chính khai khoáng ở Indonesia chỉ ra nguồn thu gồm thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp 25% và thuế xuất khẩu 5%. Báo cáo của Herman Daly (1990) xác lập 4 nguyên tắc phát triển bền vững trong sử dụng tài nguyên tái sinh và không tái sinh.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các công trình đi trước đã làm rõ nhiều khía cạnh kỹ thuật, tài chính và chính sách, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản ở phạm vi quản lý hành chính cấp tỉnh tại Nghệ An. Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về phương pháp định giá mỏ khoáng sản dựa trên tô mỏ nhằm thiết lập căn cứ khoa học cho việc xác định giá khởi điểm đấu giá quyền khai thác và thu tiền cấp quyền khai thác tại Nghệ An; đồng thời khảo sát định lượng để đánh giá tính khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả của các văn bản chính sách do chính quyền tỉnh ban hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết:
- Khoáng sản và đặc điểm khoáng sản: Định nghĩa theo Luật Khoáng sản năm 2010 và khoa học địa chất xác định khoáng sản là tích tụ vật chất tự nhiên có ích ở thể rắn, lỏng, khí. Khoáng sản mang ba đặc tính cơ bản: (1) Tính đặc thù, rất đa dạng, phân bố không đồng đều và điều kiện địa chất mỗi mỏ là riêng biệt; (2) Tính hữu hạn và không thể phục hồi; (3) Tính thay thế lẫn nhau khi khan hiếm.
- Ba giai đoạn của hoạt động khoáng sản: Khác với Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010 gộp khâu phân loại, làm giàu vào khai thác, tác giả luận án xác định hoạt động khoáng sản gồm 3 giai đoạn độc lập về công nghệ và quản lý: Giai đoạn 1 là Thăm dò khoáng sản; Giai đoạn 2 là Khai thác khoáng sản; Giai đoạn 3 là Chế biến sơ (phân loại, làm giàu). Việc phân tách này giúp chính quyền địa phương thuận lợi trong công tác quy hoạch, cấp phép hoạt động và quản lý môi trường riêng biệt giữa khu vực khai thác và các nhà máy chế biến (như nhà máy cưa xẻ đá ốp lát, nghiền bột đá trắng tại Nghệ An).
- Lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế: Dựa trên giáo trình của Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bửu và Đỗ Thị Hải Hà, quản lý nhà nước về kinh tế thực hiện qua ba chức năng: (1) Hoạch định phát triển kinh tế; (2) Tổ chức và điều hành; (3) Kiểm soát. Ba phương pháp quản lý chủ yếu gồm: hành chính, kinh tế, giáo dục - thuyết phục. Bốn công cụ quản lý gồm: pháp luật, kế hoạch, chính sách và tài sản quốc gia. Quản lý được phân định theo ngành (các Bộ, ngành trung ương) và theo địa phương (UBND các cấp).
- Lý thuyết kinh tế tài nguyên: Hiện tượng "Căn bệnh Hà Lan" (The Economist, 1977) và "Lời nguyền tài nguyên" (Richard Auty, 1993) được vận dụng để cảnh báo sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thô dẫn đến suy giảm các ngành sản xuất khác. Khái niệm địa tô mỏ và tô mỏ của David Ricardo và Karl Marx được luận án phát triển thành căn cứ kinh tế để thu hồi phần lợi nhuận siêu ngạch từ điều kiện tự nhiên thuận lợi của mỏ khoáng sản giao nộp vào ngân sách nhà nước. Luận án cũng tiếp thu các nguyên tắc minh bạch EITI, Khung quản trị khoáng sản ASEAN và 4 nguyên tắc phát triển bền vững của Herman Daly (1990).
Phương pháp nghiên cứu:
- Cách tiếp cận: Tiếp cận duy vật biện chứng kết hợp nghiên cứu lý luận với điều tra thực tiễn; tiếp cận hệ thống phân tích mối quan hệ giữa chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và môi trường kinh tế - xã hội.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết hàng năm của UBND tỉnh Nghệ An và các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Công Thương; số liệu thống kê trữ lượng, cấp phép, thu ngân sách và xử lý vi phạm.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa, quan sát và ghi nhận hiện trạng khai thác, chế biến tại các vùng mỏ; điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát thiết kế theo thang đo Likert 5 bậc nhằm lượng hóa tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả của các văn bản chính sách.
Bảng số liệu điều tra khảo sát của luận án được thực hiện như sau:
| STT |
Đối tượng điều tra khảo sát |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu thu về đạt yêu cầu |
Tỉ lệ (%) |
| 1 |
Doanh nghiệp hoạt động khoáng sản (khai thác, chế biến) |
80 |
68 |
85,0 |
| - |
Doanh nghiệp lớn |
8 |
4 |
50,0 |
| - |
Doanh nghiệp vừa và nhỏ |
72 |
64 |
83,3 |
| 2 |
Cơ quan quản lý nhà nước |
50 |
37 |
74,0 |
| - |
Quản lý cấp huyện, xã (Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu, Đô Lương) |
20 |
17 |
85,0 |
| - |
Quản lý cấp tỉnh (Sở TN&MT, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, VP UBND tỉnh) |
25 |
20 |
80,0 |
| 3 |
Các nhà khoa học thuộc lĩnh vực hoạt động khoáng sản |
20 |
12 |
60,0 |
| Tổng |
|
150 |
117 |
78,0 |
- Phương pháp xử lý tài liệu: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, so sánh đối chiếu; tham vấn chuyên gia quản lý; phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF) để tính toán tô mỏ và giá trị hiện tại ròng (NPV) với suất chiết khấu r = 13% tại mỏ thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan và phương pháp nghiên cứu đề tài Luận án
Chương này điểm luận hệ thống 17 công trình trong nước và 6 công trình, báo cáo quốc tế theo các nhánh nội dung: cơ sở khoa học quản lý khoáng sản, quy hoạch và bảo vệ tài nguyên, đánh giá kinh tế và định giá mỏ, quản lý tài chính và thuế khoáng sản, quản lý môi trường. Tác giả khẳng định tính mới của đề tài khi chưa có nghiên cứu nào đánh giá toàn diện công tác quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn cấp tỉnh tại Nghệ An. Chương xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu và thiết lập khung tiếp cận hệ thống, quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp cùng phương pháp điều tra thực địa, khảo sát xã hội học với 117 phiếu điều tra hợp lệ (đạt tỉ lệ 78%).
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản
Chương này làm rõ khái niệm khoáng sản, phân loại khoáng sản theo dạng tồn tại, thành phần hóa học, công dụng và nguồn gốc. Luận án phân tích vai trò kinh tế - xã hội của tài nguyên khoáng sản, đồng thời phân tích hiện tượng Căn bệnh Hà Lan và Lời nguyền tài nguyên. Tác giả luận giải việc chia hoạt động khoáng sản thành 3 giai đoạn: Thăm dò – Khai thác – Chế biến sơ. Chương 2 hệ thống hóa 3 chức năng quản lý nhà nước về kinh tế (hoạch định, tổ chức - điều hành, kiểm soát), 3 nhóm phương pháp (hành chính, kinh tế, giáo dục) và 4 công cụ quản lý. Tác giả phân tích hai mô hình sở hữu khoáng sản trên thế giới: sở hữu chủ đất (Hoa Kỳ) và sở hữu toàn dân/nhà nước (Agentina, Bolivia, Chile, Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam). Phần thực tiễn tổng kết kinh nghiệm quản lý của Nam Phi (chuẩn SAMVAL), Philippines (thuế tài nguyên 5%, trích 40% cho địa phương), Indonesia (thuế tài nguyên, thuế TNDN 25%, thuế xuất khẩu 5%), các chuẩn mực minh bạch EITI, Khung quản trị ASEAN và thực tiễn quy hoạch tại Quảng Ninh, từ đó rút ra bài học cho Nghệ An.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương này khái quát đặc điểm tự nhiên, địa chất và tiềm năng khoáng sản của Nghệ An (nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá hoa trắng, đá quý, nước khoáng). Tác giả phân tích thực trạng hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến giai đoạn 2010–2016 (cập nhật đến quý II/2017), chỉ rõ sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, hình thành các khu chế biến đá ốp lát, bột đá siêu mịn nhưng công nghệ còn chênh lệch. Phân tích thực trạng thực hiện các chức năng quản lý nhà nước:
- Hoạch định: Lập các quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản nhưng chất lượng còn hạn chế, thường xuyên phải điều chỉnh.
- Tổ chức và điều hành: Ban hành hệ thống văn bản pháp quy của UBND tỉnh; thực hiện quy trình cấp phép, cho thuê đất; quản lý nghĩa vụ tài chính gồm thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; quản lý danh mục giấy phép còn hiệu lực và xử lý thu hồi mỏ vi phạm.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Thực hiện các đợt kiểm tra liên ngành, xử phạt vi phạm hành chính nhưng việc ngăn chặn khai thác lậu chưa triệt để.
Dựa trên kết quả khảo sát 117 phiếu điều tra, tác giả lượng hóa đánh giá tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả của các văn bản chính sách; thống kê năng lực cán bộ quản lý; chỉ ra các nguyên nhân hạn chế bắt nguồn từ lỗ hổng thể chế, năng lực bộ máy cấp huyện/xã, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe và ý thức chấp hành của doanh nghiệp.
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương này phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế, áp lực tăng trưởng xanh và các biến động kinh tế trong nước. Luận án đề xuất 4 quan điểm định hướng và hệ thống 6 nhóm giải pháp thực hiện tại Nghệ An:
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền UBND tỉnh: Tập trung ban hành bảng giá tính thuế tài nguyên sát giá thị trường; xác định hệ số quy đổi khoáng sản nguyên khai sang thành phẩm; xác định mức giá khởi điểm đấu giá quyền khai thác mỏ.
- Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch: Xây dựng quy hoạch đồng bộ, tích hợp bảo vệ môi trường, khoanh định vùng cấm và tạm thời cấm khai thác, chấm dứt tình trạng quy hoạch chạy theo dự án.
- Tăng cường thực thi chính sách, pháp luật: Quản lý chặt chẽ thủ tục cho thuê đất, ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ; giám sát sản lượng khai thác thực tế qua trạm cân và camera giám sát.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: Nâng cao tần suất kiểm tra đột xuất, xử lý dứt điểm các điểm nóng khai thác trái phép tại Quỳ Hợp, Tân Kỳ; quy trách nhiệm người đứng đầu chính quyền cấp huyện, xã.
- Nâng cao năng lực bộ máy quản lý: Kiện toàn tổ chức Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng chuyên môn cấp huyện; đào tạo chuyên môn địa chất - kinh tế cho cán bộ; đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.
- Nhóm giải pháp khác: Đầu tư hoàn thiện hạ tầng giao thông vùng mỏ, xây dựng cơ chế trích lập nguồn thu khoáng sản điều tiết cho địa phương nơi có mỏ để đầu tư an sinh xã hội.
Đặc biệt, chương này áp dụng thử nghiệm phương pháp định giá mỏ theo tô mỏ đối với mỏ đá hoa Thung Dên, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp. Với phương pháp mặt cắt địa chất thẳng đứng xác định trữ lượng, tổng hợp vốn đầu tư, chi phí sản xuất, doanh thu và tính toán giá trị hiện tại ròng (NPV) ở mức suất chiết khấu r = 13%, tác giả xác định được lượng tô mỏ cụ thể làm căn cứ khoa học xác lập giá khởi điểm đấu giá và mức thu tiền cấp quyền khai thác. Luận án kết thúc bằng các kiến nghị gửi Chính phủ và các Bộ ngành trung ương hoàn thiện Luật Khoáng sản và chính sách thuế tài nguyên.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án khẳng định sự cần thiết phải vận dụng đồng bộ các phương pháp và công cụ quản lý nhà nước về kinh tế vào lĩnh vực khoáng sản, xuất phát từ các đặc thù tự nhiên của tài nguyên (tính cố định, tính hữu hạn, không tái tạo và tính thay thế).
- Luận án xác định phương pháp định giá mỏ khoáng sản đã qua thăm dò phù hợp nhất với điều kiện Việt Nam và Nghệ An là phương pháp định giá theo tô mỏ. Đây là cơ sở khoa học để xác định giá khởi điểm đấu giá quyền khai thác khoáng sản và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, khắc phục hạn chế của việc chỉ quản lý theo chỉ tiêu hiện vật (trữ lượng, sản lượng).
- Luận án xác định 4 yêu cầu cốt lõi nhằm tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản trong bối cảnh mới: (1) Bám sát mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; (2) Tăng cường tính công khai, minh bạch theo chuẩn mực EITI và Khung quản trị khoáng sản ASEAN; (3) Tinh gọn bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ, cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ; (4) Quản lý toàn diện từ hoạch định chính sách đến tổ chức thực thi và thanh tra, giám sát.
Về mặt thực tiễn:
- Luận án chỉ rõ 4 hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý khoáng sản tại Nghệ An: văn bản pháp quy còn lỗ hổng và chậm ban hành; quy hoạch chất lượng thấp, nhanh lỗi thời; thực thi chính sách và sử dụng nguồn tài chính môi trường kém hiệu quả; thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên và xử lý vi phạm chưa triệt để.
- Luận án đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An: rà soát bổ sung văn bản quy phạm pháp luật (giá tính thuế tài nguyên, giá khởi điểm đấu giá); nâng cao chất lượng quy hoạch; tăng cường bảo vệ môi trường và tuyên truyền pháp luật; siết chặt thanh tra, kiểm tra; nâng cao năng lực bộ máy; hoàn thiện hạ tầng và cơ chế tài chính.
- Luận án tính toán thực nghiệm thành công mô hình xác định tô mỏ tại mỏ đá hoa Thung Dên, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp với suất chiết khấu r = 13%, cung cấp công cụ tính toán lượng hóa cụ thể cho cơ quan quản lý tỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án cho thấy một số giới hạn trong phạm vi nghiên cứu:
- Về phạm vi đối tượng: Tính toán thực nghiệm xác định tô mỏ mới chỉ thực hiện trên một đối tượng cụ thể là mỏ đá hoa Thung Dên (xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp). Do mỗi loại khoáng sản có đặc điểm địa chất, công nghệ khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ khác nhau, mô hình này chưa được kiểm chứng cho toàn bộ các nhóm khoáng sản khác của tỉnh như than, quặng sắt, thiếc, đá quý hoặc nước khoáng.
- Về thẩm quyền thể chế: Các giải pháp của luận án tập trung chủ yếu vào các nội dung thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương cấp tỉnh (UBND tỉnh Nghệ An). Những vấn đề thuộc