Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận tỉnh Lâm Đồng hiện quản lý khoảng 150.000 ha rừng Thông ba lá, trong đó diện tích rừng tự nhiên thuần loài chiếm hơn 6.000 ha và rừng trồng đạt 2.845 ha. Rừng Thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon) đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn thiết yếu cho lưu vực suối Cam Ly dài 20 km và hệ thống hồ đập thủy lợi hơn 756 ha mặt nước, đồng thời duy trì cảnh quan du lịch đặc thù tại cao nguyên có độ cao bình quân 1.520 m. Tuy nhiên, sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên cùng áp lực nhân sinh đã làm suy thoái khả năng tự phục hồi của loài cây lá kim bản địa này.

Luận văn thạc sĩ lâm nghiệp của tác giả Võ Thanh Sơn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Thế Đồi tại Trường Đại học Lâm nghiệp, tập trung giải quyết bài toán thiếu hụt cơ sở định lượng về động thái tái sinh tự nhiên dưới tán rừng. Nghiên cứu xác định mục tiêu làm sáng tỏ cấu trúc lâm phần và đặc điểm tái sinh của Thông ba lá theo 3 dạng địa hình gồm đỉnh đồi, sườn đồi và chân đồi, kết hợp 2 hướng phơi chính là Bắc - Nam và Đông - Tây. Phạm vi khảo sát thực địa được triển khai tại các tiểu khu 152, 152B, 153 và 163A thuộc xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt do Công ty Cổ phần Giống lâm nghiệp Tây Nguyên quản lý trong giai đoạn 2016 - 2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ lâm sinh chuẩn xác nhằm nâng cao tỷ lệ cây tái sinh triển vọng, tối ưu hóa các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và bảo tồn bền vững nguồn gen Thông ba lá tại Tây Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết cấu trúc tầng tán rừng nhiệt đới của Richards và Davis thiết lập năm 1934, kết hợp luận điểm về quy luật cấu trúc rừng hỗn loài và rừng thuần loài nhiệt đới của Thái Văn Trừng năm 1982. Đồng thời, đề tài kế thừa nguyên lý động thái tái sinh rừng tự nhiên của Lamprecht năm 1989 và Phùng Ngọc Lan năm 1996, khẳng định tái sinh là quá trình sinh học tự đào thải và thay thế liên tục của thế hệ cây con dưới tán rừng.

Khung phân tích của luận văn xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:

  • Tái sinh tự nhiên: Quá trình thiết lập lớp cây con từ nguồn hạt giống hữu tính rơi rụng tự nhiên từ tầng cây mẹ trên nền đất còn tính chất đất rừng feralit đỏ vàng.
  • Cây tái sinh triển vọng: Những cá thể cây con đạt chiều cao từ 100 cm trở lên, thân thẳng, tán lá cân đối tròn đều, đỉnh sinh trưởng phát triển mạnh và không bị sâu bệnh phá hại.
  • Độ tàn che và độ che phủ: Tỷ lệ diện tích tán lá cây gỗ tầng trên che bóng mặt đất rừng, chia thành 5 cấp độ từ dưới 0,3 đến trên 0,9.
  • Lỗ trống tán rừng: Khoảng không gian gián đoạn của tầng tán có diện tích từ 100 m2 đến trên 750 m2, hình thành do cây đổ gãy tự nhiên hoặc khai thác chọn, tạo vi khí hậu ánh sáng cục bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra lâm học kết hợp thống kê toán học sinh vật. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trên 6 tuyến điều tra thực địa có tổng chiều dài từ 12 km đến 18 km, cắt vuông góc và song song với các đường đồng mức tại các đai cao từ dưới 1.200 m đến 1.600 m.

Quy mô mẫu điều tra gồm 12 ô tiêu chuẩn định vị điển hình, mỗi ô có diện tích 1.000 m2 (kích thước 20 m x 50 m) phân bố đều trên 3 dạng địa hình: đỉnh đồi (độ cao 1.400 - 1.600 m), sườn đồi (độ cao 1.200 - 1.400 m) và chân đồi (độ cao dưới 1.200 m). Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thiết lập 5 ô dạng bản diện tích 20 m2 (kích thước 4 m x 5 m) tại 4 góc và tâm ô để thống kê toàn diện cây con có chiều cao từ 5 cm đến đường kính ngang ngực dưới 6 cm, tương ứng 60 ô dạng bản cho mỗi nhóm cấu trúc. Đối với các nhân tố sinh thái chuyên biệt, tác giả bố trí 20 ô dạng bản 4 m2 (kích thước 2 m x 2 m) theo 5 cấp độ tàn che, 25 ô dạng bản đánh giá ảnh hưởng cây bụi, hệ thống ô đánh giá thảm tươi và 12 lỗ trống tán rừng được lặp lại 3 lần trên 4 cấp quy mô diện tích.

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel chuyên dụng cho lâm nghiệp. Các phân bố thực nghiệm số cây theo cấp đường kính (N/D1.3), cấp chiều cao (N/Hvn) và đường kính tán (N/Dt) được kiểm định bằng trắc nghiệm thống kê t-Student ở mức xác suất ý nghĩa 95%, giúp phân định rõ rệt sự sai khác giữa các dạng lập địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc tầng cây gỗ lớn Thông ba lá tại khu vực nghiên cứu có mật độ dao động từ 400 đến 500 cây/ha, phân bố số cây theo cấp đường kính tuân theo quy luật phân bố giảm rõ rệt. Đường kính bình quân D1.3 biến thiên từ 24,5 cm đến 38,2 cm và chiều cao vút ngọn bình quân Hvn đạt từ 14,2 m đến 21,6 m tùy theo vị trí địa hình. Tại vị trí chân đồi và sườn đồi, điều kiện lập địa ẩm giúp cây sinh trưởng vượt trội từ 15% đến 22% về trữ lượng gỗ so với vị trí đỉnh đồi khô cằn.

Thứ hai, mật độ tái sinh tự nhiên toàn phần biến động mạnh từ 2.800 đến 6.500 cây/ha. Tuy nhiên, phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có dạng đường cong chữ J ngược giảm dần nghiêm ngặt. Lớp cây con mới nảy mầm có chiều cao dưới 50 cm chiếm tỷ trọng áp đảo từ 62% đến 74% tổng số cây tái sinh, nhưng tỷ lệ sống sót chuyển tiếp lên cấp chiều cao từ 51 cm đến 100 cm sụt giảm chỉ còn 18% đến 24%. Số lượng cây tái sinh triển vọng (chiều cao trên 100 cm, sinh trưởng tốt) chỉ đạt khiêm tốn từ 350 đến 680 cây/ha, tương đương tỷ lệ từ 8% đến 12%. Nguồn gốc cây tái sinh ghi nhận 100% hình thành từ hạt hữu tính, không ghi nhận khả năng tái sinh chồi gốc.

Thứ ba, độ tàn che tán rừng có ảnh hưởng mang tính quyết định đến mật độ và sức sống của lớp cây non. Ở cấp độ tàn che tối ưu từ 0,4 đến 0,6, mật độ cây con đạt giá trị cực đại trên 5.200 cây/ha với tỷ lệ cây tốt đạt trên 78%. Khi độ tàn che tăng lên trên 0,8, điều kiện thiếu hụt ánh sáng làm mật độ cây con giảm sâu xuống dưới 1.600 cây/ha và trên 70% cây tái sinh biểu hiện còi cọc, tán hình cờ. Ngược lại, tại các ô trơ trọi có độ tàn che dưới 0,3, ánh sáng tán xạ quá gắt kết hợp khô hạn mặt đất khiến hạt non chết khô hàng loạt.

Thứ tư, lớp cây bụi và thảm tươi tác động cạnh tranh trực tiếp đến không gian sinh dưỡng của Thông ba lá. Khi độ che phủ của cây bụi vượt quá 70% và chiều cao cây bụi trên 1,5 m, mật độ cây con Thông ba lá suy giảm tới 65% do bị chèn ép không gian ngọn. Tương tự, thảm tươi dày rậm trên 80% ngăn cản hạt giống có cánh dài 1,5 - 2,5 cm tiếp xúc với tầng đất khoáng Feralit, làm giảm tỷ lệ nảy mầm tự nhiên xuống dưới 15%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm minh chứng rõ nét đặc tính sinh thái của Thông ba lá là loài cây gỗ ưa sáng tuyệt đối ngay từ giai đoạn vườn ươm đến khi trưởng thành. Biểu đồ phân bố tần số chiều cao N/Hvn và cấu trúc trắc diện Davids - Richards cho thấy dưới tán rừng khép kín, cây mầm xuất hiện rất nhiều sau mùa mưa tháng 9 đến tháng 10 nhờ lượng hạt phát tán dồi dào, nhưng đa phần bị đào thải tự nhiên trong mùa khô hạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 do thiếu ánh sáng quang hợp và sự cạnh tranh dinh dưỡng của rễ cây bụi tầng mặt.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Nguyễn Duy Chuyên tại Nghệ An và Đỗ Anh Tuân tại Bắc Giang trên các kiểu rừng thứ sinh, quy luật tái sinh lỗ trống của Thông ba lá thể hiện nét đặc thù sinh thái riêng biệt. Dữ liệu bảng thống kê tương quan lỗ trống chỉ ra rằng quy mô lỗ trống từ 250 m2 đến 500 m2 là khoảng không gian lý tưởng nhất, giúp tạo ra lượng nhiệt bức xạ dồi dào và độ ẩm tầng đất mặt cân bằng, thúc đẩy mật độ cây tái sinh triển vọng tăng gấp 2,8 lần so với dưới tán rừng kín. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua đồ thị hồi quy tương quan đa biến giữa độ mở tán rừng và mật độ sinh trưởng ngọn của lớp cây con.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi rừng tự nhiên và chuyển hóa lớp cây con thành rừng gỗ lớn giá trị cao, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh then chốt:

  • Tiến hành điều chỉnh độ tàn che tán rừng: Áp dụng biện pháp tỉa thưa vệ sinh và khai thác chọn các cây già cỗi, sâu bệnh hoặc cụt ngọn trong quần thụ, hạ độ tàn che từ mức trên 0,8 xuống mức tối ưu 0,5 - 0,6. Mục tiêu nâng mật độ cây tái sinh đạt trên 4.500 cây/ha. Hoạt động này cần thực hiện vào cuối mùa khô (tháng 3 đến tháng 4 hàng năm) do Công ty Cổ phần Giống lâm nghiệp Tây Nguyên phối hợp cùng các ban quản lý rừng phòng hộ triển khai.
  • Xử lý cơ giới và phát dọn thảm thực bì cạnh tranh: Thực hiện phát luỗng dây leo, cây bụi có chiều cao trên 1,0 m và dọn sạch thảm cỏ tế guột cục bộ theo băng rộng 1,0 - 1,5 m hoặc theo đám quanh cây mẹ trước mùa thông rụng hạt (tháng 10 đến tháng 11). Biện pháp này giúp hạt thông tiếp xúc trực tiếp với đất khoáng Feralit, nâng tỷ lệ nảy mầm thực địa lên trên 35%.
  • Xúc tiến tái sinh tại các lỗ trống tự nhiên và nhân tạo: Tận dụng các khoảng trống tán rừng có diện tích từ 250 m2 đến 500 m2 để xới đất nhẹ tầng mặt sâu 5 - 10 cm, bón lót bổ sung 1% phân lân supe vi sinh và tiến hành trồng dặm bổ sung bằng cây con đóng bầu PE tiêu chuẩn (tuổi bầu 6 - 9 tháng, chiều cao 15 - 20 cm) tại các vị trí mật độ cây triển vọng dưới 500 cây/ha. Timeline triển khai trong vòng 2 năm đầu mùa mưa (tháng 5 đến tháng 6).
  • Ban hành quy chế phòng chống cháy rừng và chăn thả gia súc: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng và Ủy ban nhân dân xã Xuân Thọ cần xây dựng hệ thống đường băng cản lửa rộng 10 - 20 m xen kẽ cây lá rộng bản địa, đồng thời nghiêm cấm thả rông gia súc trong các tiểu khu rừng phục hồi có cây non dưới 3 năm tuổi, đảm bảo tỷ lệ sống sót của cây con đạt trên 85% trong chu kỳ kiểm tra 5 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang tính ứng dụng thực tiễn cao và là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng:

  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn xác về phương pháp luận lập ô tiêu chuẩn, vẽ biểu đồ trắc diện tầng tán Davids - Richards và mô hình hóa toán học các quy luật phân bố lâm phần cây lá kim á nhiệt đới.
  • Cán bộ kỹ thuật và kiểm lâm viên tại các Ban quản lý rừng phòng hộ, Vườn Quốc gia khu vực Tây Nguyên: Ứng dụng trực tiếp quy trình điều tra, đánh giá chất lượng cây con và kỹ thuật điều tiết tán rừng để xây dựng phương án khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên tại Bidoup - Núi Bà và vùng phụ cận.
  • Doanh nghiệp trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản ngoài gỗ: Nắm bắt các thông số sinh trưởng, mật độ kinh doanh gỗ 2.000 cây/ha, mật độ nguyên liệu giấy 4.000 - 5.000 cây/ha và chu kỳ chích dưỡng nhựa thông bền vững kéo dài 30 - 40 năm với năng suất đạt từ 90 đến 160 kg nhựa/ha/năm.
  • Chuyên viên hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh Tây Nguyên: Sử dụng số liệu định lượng thực địa để tham mưu chính sách đóng cửa rừng tự nhiên, phân bổ ngân sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học thích ứng biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Thông ba lá tại Đà Lạt tái sinh tự nhiên hoàn toàn bằng hạt mà không có chồi? Đặc tính sinh học của chi Pinus nói chung và Thông ba lá nói riêng không sở hữu các mắt mầm ngủ hoạt hóa ở cổ rễ sau khi bị chặt hạ hoặc cháy rừng. Cây mẹ từ 6 đến 7 tuổi bắt đầu ra nón, hạt có cánh nhẹ dài 1,5 - 2,5 cm giúp phát tán theo gió trong bán kính 50 - 100 m. Do đó, 100% cây con phục hồi dưới tán rừng tự nhiên tại Lâm Đồng đều có nguồn gốc từ hạt hữu tính.

Mật độ cây tái sinh triển vọng tối thiểu cần đạt bao nhiêu để rừng có khả năng tự phục hồi? Theo tiêu chuẩn điều tra quy hoạch lâm nghiệp áp dụng trong luận văn, một lâm phần Thông ba lá tự nhiên được đánh giá có khả năng tự phục hồi bền vững khi mật độ cây tái sinh triển vọng (chiều cao trên 100 cm, phẩm chất tốt, không bị sâu bệnh) đạt tối thiểu từ 500 đến 800 cây/ha phân bố đều trên mặt tán rừng.

Độ tàn che tán rừng bao nhiêu là tối ưu nhất cho cây non Thông ba lá phát triển? Độ tàn che tán rừng lý tưởng nhất cho Thông ba lá tái sinh nằm trong ngưỡng từ 0,4 đến 0,6. Tại ngưỡng này, tầng tán vừa cung cấp đủ lượng bức xạ ánh sáng trên 60% cho cây con quang hợp mạnh mẽ, vừa duy trì độ ẩm lớp đất mặt Feralit cần thiết trong các tháng mùa khô, hạn chế hiện tượng cây mầm bị héo rũ.

Kích thước lỗ trống tán rừng nào kích thích tái sinh Thông ba lá tốt nhất? Quy mô lỗ trống từ 250 m2 đến 500 m2 mang lại hiệu quả tái sinh cao nhất. Lỗ trống dưới 250 m2 thường bị che bóng bởi các cây mẹ viền mép, trong khi lỗ trống trên 750 m2 lại khiến bề mặt đất bị khô kiệt nhanh và tạo điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển ồ ạt, lấn át hoàn toàn cây con Thông ba lá.

Khai thác nhựa thông có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng ra hạt và tái sinh của cây mẹ không? Nếu áp dụng chế độ chích dưỡng đúng quy trình kỹ thuật (mỗi cây chích từ 1 đến 3 máng, duy trì trong 30 - 40 năm khi đường kính cây đạt từ 20 cm đến 80 cm), sức sinh trưởng và năng suất kết hạt của cây mẹ không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, chế độ chích kiệt quá mức trước khai thác trắng sẽ làm suy kiệt nhựa, khiến hạt bị lép và giảm tỷ lệ nảy mầm xuống dưới 20%.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về cấu trúc lâm phần và động thái tái sinh của loài Thông ba lá tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trên 12 ô tiêu chuẩn đại diện cho 3 dạng địa hình.
  • Khẳng định đặc tính ưa sáng mạnh mẽ của Thông ba lá, chỉ ra nguyên nhân sụt giảm tỷ lệ sống sót của cây con từ giai đoạn hạt mầm (chiếm trên 60%) xuống giai đoạn triển vọng (chỉ còn 8% đến 12%) là do thiếu hụt ánh sáng và cạnh tranh của thảm thực bì.
  • Xác định ngưỡng sinh thái tối ưu cho tái sinh tự nhiên gồm độ tàn che 0,4 - 0,6, kích thước lỗ trống tán rừng 250 - 500 m2 và độ che phủ thảm tươi dưới 50%.
  • Đóng góp 4 giải pháp lâm sinh đột phá bao gồm điều tiết tán rừng, phát dọn thảm mục cục bộ, xúc tiến tái sinh lỗ trống và kiểm soát cháy rừng nghiêm ngặt.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý lâm nghiệp tại Lâm Đồng và Tây Nguyên nhanh chóng ứng dụng quy trình kỹ thuật của luận văn vào thực tiễn quản lý tiểu khu rừng tự nhiên ngay trong mùa mưa tới.