ĐẶT VẤN ĐỀ Lý do lựa chọn đề tài Rừng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bị suy giảm một cách nhanh chóng làm mất đi môi trƣờng sống của nhiều loài động vật, thực vật,. mặt khác, có rất nhiều loài cây còn chƣa đƣợc biết tên, chƣa phân tích đƣợc thành phần hoá học, chƣa biết đƣợc công dụng của chúng. Đây là một trong những vấn đề còn chứa đựng nhiều bí ẩn.
Việt Nam với diện tích hơn 330.000 km2, trong đó, đồi núi chiếm 4/5, khối núi cao nhất là Hoàng Liên Sơn, có đỉnh Fansipan cao tới 3143 m đƣợc coi là nóc là của Đông Dƣơng. Với đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu đã tạo ra sự đa dạng cao về sinh học ở Việt Nam trong đó có tài nguyên thực vật làm thuốc. Từ xa xƣa, ông cha ta đã biết sử dụng nguồn dƣợc liệu quý báu từ tự nhiên làm thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Từ việc lựa chọn các loài cây thuốc, phƣơng pháp pha chế, phƣơng pháp sử dụng, các bệnh đƣợc chữa,.đều là những kinh nghiệm lâu đời và đƣợc ghi chép cẩn thận, lƣu truyền qua nhiều thế hệ.
Đây là những kinh nghiệm quý báu mà mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có. Ngày nay, các phƣơng pháp chữa bệnh bằng các loại thảo dƣợc đang đƣợc tập trung nghiên cứu và phát triển. Cho đến năm 2012, nƣớc ta đƣợc ghi nhận có tới gần 4700 loài thực vật đƣợc sử dụng làm thuốc (Võ Văn Chi, 2012) [8], đây chắc hẳn chƣa phải là con số đầy đủ nếu nhƣ không muốn nói là còn ít so với những con số thực tế bởi vì kho tàng kinh nghiệm của các dân tộc là rất lớn, trong khi công tác điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, bảo tồn nguồn tài nguyên quí giá này của chúng ta vẫn còn có nhiều hạn chế. Mặc dù xu thế hiện nay của thế giới là nghiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cứu việc chiết xuất ra các dạng dƣợc phẩm có giá trị nhƣng việc điều tra, nghiên cứu về nguồn dƣợc liệu của các dân tộc hiện nay vẫn đang là vấn đề cần đƣợc quan tâm một cách sâu sắc bởi nhiều loại bệnh cho đến nay tây y vẫn chƣa có thuốc đặc trị.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh nằm trên địa bàn 4 xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, cách thị trấn Đà Bắc huyện Đà Bắc 30 Km, cách thành phố Hòa Bình 50 km. Với tổng diện tích tự nhiên của Khu BTTN Phu Canh là 5.647 ha, trong đó diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 2.434,6 ha và phân khu phục hồi sinh thái là 3.212,4 ha, Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh là vùng núi thấp và núi cao, (độ cao lớn nhất là 1.349m - đỉnh Phu Canh), độ dốc bình quân trên 300, chiều dài sƣờn dốc 1000 - 2000m, hiểm trở, đi lại rất khó khăn, nơi chứa đựng nhiều bí ẩn về nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cũng nhƣ nhiều Vƣờn quốc gia (VQG) hay Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) khác trong cả nƣớc, Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình có hệ thực vật nói chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng đƣợc đánh giá là khá phong phú nhƣng gần đây lại đang đứng trƣớc nguy cơ gây suy giảm cả về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng. Tuy nhiên, tại đây cho đến nay các công trình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc vẫn chƣa đƣợc quan tâm và chú ý tới nhiều.
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hoà Bình” nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Phu Canh, tỉnh Hòa Bình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Mục tiêu cụ thể - Tập hợp một cách có hệ thống các loài cây làm thuốc đƣợc ghi nhận ở Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phu Canh, tỉnh Hoà Bình. - Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần các taxon, các bệnh đƣợc chữa trị, các bộ phận sử dụng và dạng sống của những loài thực vật đƣợc ghi nhận làm thuốc ở khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hoà Bình.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Các loài thực vật đƣợc ghi nhận làm thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hoà Bình. - Các bài thuốc dân tộc của đồng bào dân tộc thu thập ở Khu BTTN Phu Canh. - Thời gian thực hiện: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới. Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới. Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu cây thuốc của các nƣớc đƣợc sử dụng rộng rãi và có giá trị thực tiễn lớn.
Nói đến chữa bệnh bằng cây cỏ, ngƣời ta thƣờng nghĩ ngay tới Trung Quốc, đất nƣớc có nền Đông Y lâu đời. Theo truyền thuyết của vua Thần Nông tức Viêm Đế (3320-3080 trƣớc công nguyên - TCN) thì Thần Nông đã nếm hàng trăm loại cây cỏ, phân loại dƣợc tính của thảo mộc và soạn ra cuốn sách “Thần Nông bản thảo”. Cuốn sách đã thống kê đƣợc 365 vị thuốc có giá trị [ghi theo 45]. Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hƣơng, Tử đinh hƣơng để chế hƣơng nang để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ.
Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hƣơng chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Từ thời nhà Hán (năm 168 trƣớc Công nguyên TCN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ. Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục”,…. [43, 44] Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh.
Sử dụng thực vật gắn liền với lịch sử phát triển của loài ngƣời. Trải qua hàng nghìn năm, một số lƣợng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang đƣợc con ngƣời sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Ngƣời ta ƣớc tính có khoảng 35.000 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 loài thực vật đã và đang đƣợc con ngƣời sử dụng vào mục đích chữa bệnh. Tại Trung Quốc, có tới 5.000 loài thực vật dùng làm dƣợc liệu trong y học cổ truyền.
Trong hệ thống Y học của ngƣời Trung Quốc, có 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực vật bậc cao. Việc sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nƣớc châu Á nhƣ Ấn Độ, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Pakistan, Banglades, Sri Lanka, Nêpal,… [24] Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền đƣợc hình thành cách đây hơn 3000 năm. Chủ trƣơng của ngƣời Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh. Bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita đƣợc các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dƣợc.
Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dƣợc nhƣ tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con ngƣời. Hiện nay, Chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các Viện nghiên cứu dƣợc của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật [19, 24]. Ở Philippin, ngƣời ta sử dụng cây Bồ cu vẽ (Breynia fructicosa) lấy vỏ sắc làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng chóng khỏi; Ở Malaixia, cây Húng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ, vắt nƣớc cốt cho trẻ em uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà; Ở Cămpuchia, Malaixia ngƣời ta dùng Hƣơng nhu tía (Ocimum sanctum), trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét; nƣớc lá tƣơi có tác dụng long đờm hoặc giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp [43].
Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã ghi nhận những cây thuốc trong Y học cổ truyền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và các loài cây này đã đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng, trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn. Hay gần đây, tập thể các nhà khoa học đã cho ra đời cuốn sách Tài nguyên các loài cây thuốc ở Đông Nam Á “Plant Resources of South-East Asia, Medicinal and poisonous Plant, 2001” với 1000 loài cây. [52, 56, 59] Từ thời cổ xƣa, các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis) để rửa vết thƣơng, vết loét làm cho chúng chóng lành bệnh mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có khả năng làm liền sẹo thông qua sự kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa. Ngƣời cổ Hy Lạp đã sử dụng rau Mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thƣơng cho mau lành.
Bên cạnh đó Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng ngƣời Hy Lạp đƣợc mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là ngƣời đƣa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn” [ghi theo 45]. Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu đƣợc các thầy tu sƣu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập. Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician”.