CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về Lan ở trong nước và vùng lân cận Hệ Lan của Việt Nam rất đa dạng về mặt địa lý thực vật, các đại diện đều gặp trong cả 6 tiểu vùng địa lý thực vật khác nhau của Việt Nam: Tây Tạng - Vân Nam, Nam Trung Hoa, Bắc Đông Dương, Trung Trường Sơn, Nam Trường Sơn, Nam Đông Dương [1], từ độ cao mực nước biển lên tới các độ cao của các đỉnh Phan Si Pang, Chu Yang Sinh, Ngọc Linh. Hệ Lan của Việt Nam cũng rất đa dạng về môi trường sống và thường được chia thành 3 nhóm chính: nhóm loài sống bám trên cây (Phong lan), sống trên đất (Địa Lan) và sống bám trên đá (Thạch lan). Tuy nhiên cũng có loài sống cả trên đá và đất hay trên đất và bì sinh v.v…Trong nghiên cứu thành phần loài Lan của Việt Nam và khu vực liền kề có rất nhiều công trình nghiên cứu, trong số đó chúng tôi chỉ đề cập đến một số công trình Tiêu biểu.
Ngay từ năm 1790, khi nghiên cứu hệ thực vật Nam Bộ, Joanis Loureiro đã công bố 5 chi: Aerides, Galeola, Phaius, Renanthera và Thrixspermun thuộc họ Lan của Việt Nam. Các chi này hiện vần còn nguyên giá trị khoa học [22]. Muộn hơn trên 100 năm, phải kể đến công trình lớn “Thực vật chí Đông dương” (Flore Générale de l’Indochine) do Lecomte chủ biên. Công trình này đã và đang được các nhà nghiên cứu Thực vật Việt Nam và thế giới đang sử dụng.
Trong công trình này, Gagnepain đã mô tả 485 loài thuộc 96 chi Lan của Đông Dương [21]. Sau đó, năm 1992, Seidenfaden đã công bố 800 loài thuộc 140 chi Lan ở Đông Dương trong cuốn sách “Lan Đông Dương” (The Orchids of Indochina) [24]. Đây là 2 công trình lớn liên quan đến nghiên cứu Lan của Việt Nam và Đông Dương. Các năm sau đó cũng có một vài công trình nghiên cứu có liên quan đến họ Lan của Việt Nam.
Như “The Genus Paphiopedilum” của Phillip Cribb có đề cập mô tả đến 11 loài và 2 thứ lan hài ở Việt Nam [20]. Hay “Các chi họ Lan (Orchidaceae) của Thái Lan, Lào, c 4 Campuchia và Việt Nam” (Orchid Genera of Thailand, Laos, Cambodia and Vietnam) của A. de Vogel xuất bản năm 2000 có đưa ra thông số các loài Lan của Việt Nam hiện có khoảng 751 loài thuộc 142 chi Lan [23]. Một công trình lớn phải kể đến là “Cây Cỏ Việt Nam” của GS.
Phạm Hoàng Hộ tái bản năm 2000 đã mô tả 799 loài thuộc 142 chi Lan của Việt Nam [8]. Trong khoảng từ năm 1984 đến nay, một loạt các công trình của GS.Averyanov được công bố liên quan tới nghiên cứu Lan Việt Nam, đặc biệt là phát hiện những loài Lan mới đối với khoa học, các loài Lan có nguy cơ bị đe dọa và các loài mới bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam. Tuy nhiên đó chỉ là các công trình được công bố dưới dạng các bài báo khoa học. Ngay từ năm 1990 ông đã nêu lên danh lục về Lan Việt Nam với các tên khoa học cập nhật [15].
Tới năm 1994, ông công bố cuốn sách “Identification guide to Vietnamese orchids (Orchidaceae Juss. Trong công trình này ông đã mô tả một số loài mới và kiểm kê được 718 loài thuộc 132 chi Lan của Việt Nam [16]. Đây là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên về Lan của Việt Nam trong giai đoạn mới. Năm 2003 trong “Trích yếu được cập nhật hóa về các loài Lan của Việt Nam” (Updated checklist of the orchids of Vietnam) thì Leonid V.Averyanov và Anna L.Averyanova mới lên danh lục mới, kiểm kê được 897 loài thuộc 152 chi Lan đã biết ở Việt Nam [1].
Trong công trình này, ông đã nêu lên tên khoa học chính xác cũng như số lượng của các chi và loài trong họ Lan của Việt Nam dựa trên các mẫu vật đã thu được và thời gian nghiên cứu liên tục tại Việt Nam. Con số này mới chiếm khoảng 75 - 80% trong tổng số 1000 - 1100 loài dự đoán [1]. Điều này được chứng minh bằng sự phát hiện một chi mới và 17 loài Lan mới cho khoa học từ những nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam trong thời gian từ năm 2000 tới 2004 và góp phần khẳng định Việt Nam là trung tâm đa dạng và đặc hữu Lan quan trọng ở vùng Đông Nam Á [18]. Hệ Lan của Việt Nam có 10 chi giàu loài nhất là: c 5 Dendrobium, Bulbophyllum, Eria, Habenaria, Coelogyne, Liparis, Oberomia, Cymbidium, Calanthe, và Cleisostoma.
Mỗi chi có từ 20 tới 107 loài. Số loài của 10 chi đó chiếm 49,9% tổng số loài Lan đã biết ở Việt Nam [1]. Bên cạnh đó, một công trình chuyên khảo về “Lan hài Việt Nam” đã mô tả 18 loài mọc tự nhiên, 4 loài lai tự nhiên , còn 5 loài lai tự nhiên khác vẫn chưa khẳng định chắc chắn đã được liên tục công bố bằng tiếng Anh và tiếng việt vào các năm 2003- 2004 [17]. Gần đây nhất Nguyễn Tiến Bân và cộng sự đã công bố họ Lan của Việt Nam trong “Danh lục các loài Thực vật Việt Nam” tập 3 và thống kê được 865 loài thuộc 154 chi Lan ở Việt Nam.
Rất tiếc trong danh lục Lan Việt Nam, các tác giả chưa nêu lên được các mẫu nghiên cứu cho mỗi loài. Bên cạnh những công trình lớn kể trên, tại Việt Nam cũng xuất hiện một số công trình nghiên cứu về thành phần Lan của các khu vực khác nhau. Năm 1990, Nguyễn Thiện Tịch & Lê Công Kiệt đã liệt kê 29 loài thuộc 16 chi trong “Ghi nhận một số loài Lan tại Daklak”, trong đó, có loài Arides crassifolia lần đầu tiên ghi nhận cho Việt Nam. Từ năm 1992 – 1999, Nguyễn Thiện Tịch đã ghi nhận thêm 33 loài Lan mới cho Việt Nam trong công trình “Tìm Hiểu Hoa Lan”, trong đó có 7 loài được đề nghị là mới cho khoa học.
Đến năm 2001, Nguyễn Thiện Tịch, trong công trình Lan Việt Nam đã kế thừa các công trình trước đây của tác giả về kỹ thuật trồng Lan, mô tả các loài Lan mới, phổ biến kiến thức hoa Lan và cây cảnh để viết nên công trình. Công trình “Lan Việt Nam” không chỉ trình bày những hiểu biết khoa học chuyên sâu về Lan mà còn phổ biến những kiến thức về trồng và chăm sóc Lan. Đây là công trình không chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu về Lan, mà nó còn là tài liệu có giá trị cho các nhà kinh doanh hoa Lan, các nhà sưu tầm Lan [12]. Gần đây nhất cũng đã có hai công trình nghiên cứu sâu về khu hệ Lan của Vườn QG Cúc Phương và Vườn QG Bạch Mã.
Tại các công trình c 6 này đã thống kê VGQ Cúc Phương có 56 chi và 109 loài [19] và VQG Bạch Mã có 70 chi với 180 loài [9]. Nét nổi bật của 2 công trình này là các tác giả đã nêu lên được Danh lục các loài Lan với tên khoa học theo đúng luật Danh pháp quốc tế, mỗi loài có nêu lên mẫu vật nghiên cứu làm bằng chứng và đánh giá tình trạng bảo tồn. Các công trình nêu trên rất có ý nghĩa và được sử dụng làm tài liệu tham khảo để giải quyết những nội dung của đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học.
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, đó là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI),…Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của con người phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu những tài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đe doạ. Vì vậy loài người muốn tồn tại lâu dài trên trái đất này thì phải có một dạng phát triển mới và phải có cách sống mới, chúng ta đã quá lạm dụng tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai, nên ngày nay loài người đang đứng trước hiểm hoạ. Để tránh sự huỷ hoại tài nguyên chúng ta phải tôn trọng trái đất và sống một cách bền vững, dù muộn còn hơn không.
Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992, 150 nước đã ký vào Công ước về đa dạng sinh học và bảo vệ chúng. Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời. Năm 1990 WWF đã cho xuất bản cuốn sách Tầm quan trọng của đa dạng sinh học (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra c 7 Chiến lược bảo tồn toàn cầu (World conservation strategy); Wri, IUCN và WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn cầu (Global biological strategy). Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn Bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu (Conserving the World's biological diversity) còn IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn Hãy quan tâm tới trái đất (Caring for the earth).
Cùng năm, Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn Chiến lược đa dạng sinh học và chương trình hành động. Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Năm 1992 - 1995 WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp Đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu (Global biodiversity assessment) với các tư liệu về đa dạng sinh học của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả. Bên cạnh đó, hàng ngàn những công trình khoa học và các tác phẩm khác lần lượt được đời và hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phương pháp luận cũng như thông báo các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn trên toàn thế giới.
Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được nhóm họp tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Năm 1966, IUCN đã công bố Sách Đỏ thế giới (Red Data Book) trong đó có phần thực vật. Tài liệu này đã gây được sự chú ý của các chuyên gia, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Sau đó nhiều nước, nhiều vùng cũng đã xây dựng Sách Đỏ của mình hay những tập hướng dẫn ghi chép các loài hiếm và nguy cơ tuyệt chủng cao.