ĐẶT VẤN ĐỀ Loài Bổ béo đen có tên khoa học là Goniothalamus vietnamensis Bân, họ Annonaceae. Tên gọi khác là Sâm béo đen, Sâm bảo ngọc. Đây là loài cây bụi nhỏ, mọc rải rác dưới tán rừng thứ sinh, nơi ẩm. Cây có phần rễ cọc phình to dạng củ, võ rễ khi rửa sạch có màu đen đặc trưng.
Rễ cây thường được thái lát mỏng, sao khô, sắc uống làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá.Việc phá rừng trong nhiều năm lên tiếp đã làm thu hẹp môi trường sống của loài này. Bên cạnh đó, nó còn bị thu hái theo hình thức tận diệt nguồn giống (đào cây lấy rễ) để làm thuốc. Điều này khiến số lượng cá thể loài Bổ béo đen bị suy giảm, loài này đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chính vì vậy, loài Bổ béo đen đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam năm 2007, phân hạng: VU A1a,c,d, B1+2b,e.
Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai một trong những khu rừng đặc dụng có diện tích tự nhiên lớn nhất Việt Nam. Có hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng miền Đông Nam bộ, tồn tại nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng nằm trong sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN thế giới. Năm 2019 loài Bổ béo đen (Goniothalamus vietnamensis Bân) đã được ghi nhận là loài mới tại thảm thực vật khu bảo tồn. Từ đó đến nay, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về loài này.
Chính vì vậy, luận văn “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Bổ béo đen(Goniothalamus vietnamensis Bân) tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai”đã được đề xuất thực hiện, kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững loài cây thuốc này tại khu vực nghiên cứu. 2 Chương1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo Sinclair [15], chi Goniothalamus Hk. et Thoms thuộc về một đơn vị phân loại nguyên thủy của thực vật có hoa: họ Annonaceae, bao gồm 160 loài cây bụi và cây gỗ mọc trong rừng mưa nguyên sinh ẩm nhiệt đới của châu Á.
Những cây này có thể nhanh chóng được phát hiện trong rừng nhờ vỏ của chúng có mùi thơm và những bông hoa màu đỏ tươi. Một số loài Goniothalamus đã được sử dụng để lấy gỗ, làm nguồn cung cấp chất xơ, làm cảnh và làm thuốc, đặc biệt là liên quan đến hậu sản và nạo thai. Theo Wiart [16], có rất nhiều bằng chứng cho thấy các loài trong chi này có khả năng tạo ra một loạt acetogenin và styryl-lacton có khả năng gây độc tế bào chống lại một loạt các tế bào ung thư bao gồm vú, ruột kết, tế bào ung thư biểu mô thận và tuyến tụy. Điều thú vị là cả acetogenin và styryl- lacton đều hoàn toàn khác nhau về cấu trúc hóa học nhưng các hoạt động tế bào của chúng lại xâm nhập vào động vật có vú qua các bào quan giống nhau là ty thể.
Một sự thật thú vị về phương thức hoạt động của styryl-lacton, vẫn còn là một bí ẩn, là hoạt động của chúng có thể thông qua các thụ thể protein kinase và TRAIL. Việc nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn về chi Goniothalamus có thể là một nguồn đầy hứa hẹn cho các tác nhân hóa trị liệu. Ông cũng nêu bật hoạt động kháng khuẩn của Goniothalamus scortechinii. Đây là báo cáo nghiên cứu kháng khuẩn đầu tiên trên loài Goniothalamus.
Theo Saunders [14], các đặc điểm thực vật của các loài Goniothalamus là đồng nhất và đơn giản. Khi tìm kiếm các loài Goniothalamus trong rừng nhiệt đới, người ta nên tìm những cây bụi mảnh hoặc ít lá có vỏ nhẵn, mỏng và nhiều xơ, có mùi thơm nồng và thân cây hình trụ thẳng đứng màu đen. Các lá rất ít, đơn giản, mọc xen kẽ và hình quả táo. Phiến lá bóng, hình thuôn - 3 hình mũi mác đến hình trứng và dày.
Các gân lá phụ nằm xiên, dễ thấy, thẳng và song song với các lưới dạng vô hướng. Hoa mọc ở nách và có đặc điểm là hóa gỗ, thường có màu xanh đậm và dạng hình hạt. Đài hoa bao gồm ba lá đài có hình van, màng, có vân, tự do hoặc hình nón. Các tràng hoa bao gồm hai loạt ba cánh hoa có gân và hình bông, bên trong nhỏ hơn và hợp nhất trong một vòm phía trên nhị hoa.
Các cánh hoa bên ngoài được đánh dấu bằng một đường gân chính giữa nổi rõ. Nhị hoa có dạng thẳng và hình thuôn. Vòng đệm bao gồm một số lá noãn tự do có rãnh ở mặt trước. Quả có cuống hoặc không cuống từ một đến hai lá noãn chín có hạt.
Khi nghiên cứu phân loại chi Goniothalamus tại Thái Lan, Yuttaya [18] đã thu thập được mẫu 20 tiêu bản của các loài trong chi này gồm: 14 loài xác định được và 6 loài chưa xác định. Trong số này có 5 loài ghi nhận mới của Thái Lan, đó là G. Tác giả nhận thấy, chi Goniothalamus Thái Lan không thể được phân loại thành các cấp độ theo phân loại của Nguyễn Tiến Bân vì chúng có đặc tính đa dạng hơn Bân đề xuất. Tuy nhiên, tác giả đã phát hiện ra hạt phấn của các loài Goniothalamus có hình dạng và kích thước rất khác nhau.
Đây là dữ liệu quý giá cho việc phân loại các loài trong chi này. Theo Burkill [9], trong số 160 loài, có 5 loài Goniothalamus là được ghi nhận là có công dụng làm thuốc. Chúng đã được sử dụng trong hệ thống y học cổ truyền châu Á, và từ rất lâu, hầu hết chúng liên quan đến phá thai, sinh con và sốt. được sử dụng để làm dịu cơn sốt và nước sắc của rễ được sử dụng như một phương thuốc sau khi sinh và để phá thai.
Ở Malaysia, nước sắc lá được dùng ngoài để làm dịu cơn sốt. được sử dụng để phá thai và điều trị cảm lạnh và lá đun nóng được đắp lên vết sưng tấy. Nước sắc của G. scortechinii được dùng như một phương thuốc bảo vệ sau sinh.
được sử dụng làm thuốc phá thai trong những tháng đầu của thai 4 kỳ. Ở Java, Indonesia, rễ truyền qua được dùng để chữa bệnh thương hàn. Ở Đài Loan, hạt của G. được sử dụng để điều trị bệnh ghẻ.
Ở Philippines, hạt được dùng để chữa bệnh thấp khớp và đau bụng, còn quả thì chữa đau bụng. Không có công dụng truyền thống nào được đề cập trước đây đã được chứng minh qua thử nghiệm dược lý nghiêm ngặt. Tuy nhiên, những loài này đã được nghiên cứu về các thành phần hóa học của chúng. Theo Yang [17], 22 loài (13,7%) trong chi Goniothalamus, trong số 160 loài, cho đến nay đã được nghiên cứu về mặt hóa thực vật.
Các nghiên cứu hóa thực vật này cho đến nay đã phân lập được hai nhóm chất chuyển hóa thứ cấp rất khác biệt của chất béo: acetogenin và styryl-lacton, cả hai đều có hóa học lập thể phức tạp và tồn tại ở các dạng đồng phân lập thể khác nhau. Thử nghiệm độc tính tế bào của các hóa chất này cho thấy cả acetogenin và styryl-lacton đều độc đối với một số dòng tế bào khối u ở người. Lưu ý rằng cả acetogenin và styryl-lacton đều gây độc tế bào cho các tế bào động vật có vú do kết quả của các con đường sinh hóa riêng biệt, tuy nhiên, chúng lấy cả nguồn gốc phân tử gần hoặc trong màng ty thể và hoặc hệ hô hấp của ty thể. Cho đến nay, một số bằng chứng đã chứng minh rõ ràng rằng acetogenin có tác dụng hữu ích chống lại sự phát triển của các khối u, bao gồm khối u buồng trứng, khối u dạ dày và bệnh ung thư đa kháng thuốc thông qua việc kích hoạt các dòng enzym caspase.
Khi nghiên cứu khả năng gây độc tế bào ung thư biểu mô phổi ở người(A549), Nguyễn Mạnh Cường và cs., [11] đã ghi nhận chiết xuất từ lá và rễ của Goniothalamus vietnamensis Bân ức chế hoàn toàn sự phát triển của tế bào A549 ở nồng độ 100μg / mL dịch chiết methanol. Khi nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết dicloro-metan của G. scortechinii và các phân đoạn, Chinnok và cs., [10] và cộng sự kết luận rằng chiết xuất dicloro-metan của G. scortechinii rất tích cực chống lại cả vi khuẩn Gram dương và Gam âm.
5 Ferreira [12] đã tổng hợp các nghiên cứu về nhân giống cây họ Na trên thế giới. Kết quả của các nghiên cứu chỉ ra rằng, nhân giống các cây họ Na tương đối khó khăn do hom khó ra rễ. Tóm lại, bằng chứng về sự tồn tại của các tác nhân chống ung thư, kháng khuẩn và kháng vi rút trong chi Goniothalamus là rất mạnh. Nếu nghiên cứu có hệ thống và nhất quán hơn nữa về chi thực vật có hoa này sẽ dẫn đến việc phát hiện ra các chất chống ung thư và kháng khuẩn.
Nếu có đủ nghiên cứu về thực vật học, hóa thực vật và dược lý học dành riêng cho loài thực vật có hoa nhiệt đới này, thì một vài loại thuốc để điều trị các khối u hoặc nhiễm trùng do vi khuẩn và thậm chí cả virus sẽ được phát triển trong tương lai gần. Đặc biệt là thuốc chữa ung thư từ loài Goniothalamus vietnammesis Bân. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của chi Goniothalamus còn nghèo nàn. Trên thế giới chưa có nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm sinh học của loài Goniothalamus vietnammesis Bân.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Theo Nguyễn Tiến Bân [1], hình thái chung của các cây họ Na có những đặc điểm sau: Lá của tất cả các loài họ Na đều không có lá kèm, mọc cách, đơn, nguyên, mép lá nguyên với gân lông chim. Hoa của các loài họ Na thường là hoa lưỡng tính. Hoa mọc đơn độc hoặc họp thành các dạng cụm hoa khác nhau, ở nách lá hoặc ngoài nách lá, ở đỉnh cành hoặc hoa mọc trên thân già không lá. Đặc điểm này thường được dùng để phân biệt các chi trong họ Na.
Nhị trong họ Na có hai kiểu chính: “kiểu Uvarioid” với trung đới khá dầy và dài vượt quá bao phấn để tạo thành mào trung đới,“kiểu Miliusoid” có trung đới mỏng và hẹp, làm cho bao phấn lồi lên so với trung đới. Phần lớn các loài họ Na có bộ nhụy gồm các lá noãn rời. Mỗi lá noãn được chia thành bầu, vòi nhụy và núm nhụy. Theo Nguyễn Tiến Bân [1], các loài Goniothalamus ở dạng cây bụi hoặc gỗ nhỏ, ở các bộ phận non không có lông hình sao.
Hoa lưỡng tính, 6 thường mọc ở nách lá xanh hoặc nách lá đã rụng, hiếm khi hoa mọc trên thân già hoặc vừa ở đỉnh hoặc vừa ở nách; ở gốc cuống hoa thường có một số lá bắc nhỏ.