Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên thuộc dãy Hoàng Liên Sơn là trung tâm đa dạng sinh học lớn của Việt Nam nhưng đang đứng trước nguy cơ suy giảm tài nguyên nghiêm trọng do tác động nhân sinh và biến đổi sinh cảnh. Tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, hai xã San Sả Hồ với diện tích tự nhiên 55,86 km² và xã Lao Chải với 29,28 km² tạo thành vùng không gian nghiên cứu có tổng diện tích 85,14 km², chiếm khoảng 0,026% diện tích toàn quốc. Nơi đây là địa bàn cư trú lâu đời của hơn 5.500 đồng bào dân tộc H’Mông, với tỷ lệ lao động nông - lâm nghiệp chiếm trên 90%. Cuộc sống và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn dược liệu rừng.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là kho tàng tri thức bản địa về cây thuốc dân gian của người H’Mông tại hai xã này chủ yếu được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng qua các thế hệ thầy lang, bà mế cao tuổi và chưa từng được ghi nhận, kiểm kê có hệ thống. Đồng thời, áp lực khai thác tự nhiên thiếu kiểm soát phục vụ thương mại hóa đang đe dọa trực tiếp đến quần thể của nhiều loài thực vật bản địa quý hiếm.

Mục tiêu của luận văn là tiến hành điều tra, thu thập mẫu vật, định danh khoa học và phân tích cấu trúc đa dạng của hệ cây thuốc theo các bậc phân loại, dạng sống, môi trường phân bố, bộ phận sử dụng và các nhóm bệnh điều trị. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011 tại 2 xã vùng lõi San Sả Hồ và Lao Chải. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi thống kê được 402 loài cây thuốc, chiếm 10,44% tổng số loài cây thuốc của cả nước, cung cấp luận cứ vững chắc phục vụ bảo tồn nguồn gen 15 loài nguy cấp và định hướng phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết thực vật học dân tộc học (Ethnobotany) và phân loại học thực vật (Plant Taxonomy). Hệ thống phân loại hiện đại của Armen Takhtajan và bộ sách chuẩn quốc gia Danh lục các loài thực vật Việt Nam được chọn làm hệ thống quy chiếu chính để sắp xếp, chỉnh lý các taxon từ bậc ngành, lớp, họ đến chi và loài.

Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lý thuyết sinh thái học quần xã và bảo tồn sinh học để đánh giá mức độ thích nghi của thực vật qua dạng sống và nơi cư trú tự nhiên. Các tiêu chí đánh giá tình trạng đe dọa sinh học được căn cứ nghiêm ngặt vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007, Danh mục đỏ cây bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 2009 và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Các khái niệm nền tảng bao gồm: tri thức sinh thái bản địa (TEK), đa dạng thành phần loài, dạng sống thực vật và giá trị bảo tồn nguồn gen.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa điều tra thực địa lâm học và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA):

  • Thiết kế tuyến và cỡ mẫu thực địa: Nghiên cứu thiết lập 7 tuyến khảo sát thực địa cắt ngang qua các sinh cảnh rừng đặc trưng đại diện cho vùng lõi Vườn quốc gia Hoàng Liên. Địa bàn xã San Sả Hồ gồm 4 tuyến (Suối Cát Cát, Ý Linh Hồ, Sín Chải, Suối Vàng - Thác Tình Yêu); địa bàn xã Lao Chải gồm 3 tuyến (Lao Chải San, Lồ Hàng Chải, Lý Lao Chải). Trên mỗi tuyến, điều tra chi tiết được thực hiện trong phạm vi hành lang rộng 10 mét mỗi bên. Đối với mỗi loài ghi nhận, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập 5 đến 6 mẫu tiêu bản chuẩn.
  • Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu chuyên sâu gồm 6 thầy lang và bà mế tiêu biểu người H’Mông (tiêu biểu như ông Lý Láo Lở, ông Hầu A Kỷ, ông Hạng A Chếch, ông Sùng A Tả, bà Sùng Thị Mủa, bà Chảo Sử Mẩy) kết hợp với các cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương thông qua bảng hỏi bán cấu trúc để ghi nhận chính xác tên địa phương, bộ phận dùng, phương thức bào chế và công dụng trị liệu.
  • Xử lý mẫu và phân tích dữ liệu: Toàn bộ tiêu bản tươi được sấy khô, xử lý khử trùng bằng dung dịch cồn chứa 0,3% đến 0,5% thủy ngân clorua (HgCl2) tại phòng thí nghiệm chuyên ngành, gắn trên giấy bìa tiêu chuẩn kích thước 28 cm x 42 cm. Các nhóm bệnh được phân loại chuẩn hóa thành 13 nhóm theo công trình y dược học cổ truyền của Lê Trần Đức. Vị trí các loài quý hiếm được định vị chuẩn xác ngoài thực địa bằng thiết bị GPS để số hóa bản đồ phân bố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và định danh được tổng cộng 402 loài cây thuốc thuộc 302 chi của 111 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch tại hai xã San Sả Hồ và Lao Chải. Mặc dù diện tích khu vực nghiên cứu chỉ chiếm 0,026% diện tích cả nước, số lượng họ cây thuốc ghi nhận chiếm 36,16%, số chi chiếm 19,21% và số loài chiếm 10,44% tổng hệ cây thuốc Việt Nam:

  • Đa dạng ngành và lớp: Ngành Hạt kín (Angiospermae) giữ ưu thế tuyệt đối với 373 loài (chiếm 92,79% tổng số loài), thuộc 279 chi (92,38%) và 96 họ (86,49%). Trong đó, lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) chiếm áp đảo với 333 loài (chiếm 89,28% số loài ngành Hạt kín), lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) có 40 loài (10,72%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) đứng thứ hai với 20 loài (4,98%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 6 loài (1,49%), ba ngành còn lại gồm Hạt trần, Cỏ tháp bút và Lá thông mỗi ngành có 1 loài (0,25%).
  • Đa dạng họ và chi: 3 họ có số lượng loài phong phú nhất là họ Bạc hà - Lamiaceae với 24 loài, họ Cúc - Asteraceae với 21 loài và họ Cà phê - Rubiaceae với 17 loài. 10 chi dẫn đầu (chiếm 3,31% tổng số chi) nắm giữ tới 47 loài (11,69% tổng số loài), điển hình là chi Sung vả (Ficus) với 8 loài, chi An điền (Hedyotis) có 6 loài và chi Đậu giao (Desmodium) có 5 loài.
  • Dạng sống và nơi cư trú: Cây thân thảo chiếm ưu thế vượt trội với 203 loài (50,50%), tiếp theo là cây thân bụi với 102 loài (25,37%), cây thân leo có 56 loài (13,93%) và cây thân gỗ có 41 loài (10,20%). Về môi trường sống, 240 loài phân bố ở rừng thứ sinh (59,70%), 210 loài sống ở rừng cây bụi (52,24%), 183 loài sống ở rừng nguyên sinh bị tác động (45,52%), trong khi cây trồng trong vườn nhà chỉ có 18 loài, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 4,48%.
  • Nguồn gen bảo tồn: Đã xác định được 15 loài cây thuốc quý hiếm nằm trong danh mục bị đe dọa (chiếm 3,73% tổng hệ cây thuốc khu vực). Trong đó có 12 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (gồm 1 loài Rất nguy cấp - CR là Thổ hoàng liên lùn Thalictrum ichangensis; 4 loài Nguy cấp - EN gồm Kim tuyến đá vôi, Tế hoa, Hoàng liên gai, Hoàng liên ô rô; 7 loài Sẽ nguy cấp - VU); 1 loài thuộc danh lục IUCN (Lá dương đỏ); 6 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (2 loài nhóm IA cấm khai thác thương mại và 4 loài nhóm IIA hạn chế khai thác).

Thảo luận kết quả

Cơ cấu chữa bệnh của đồng bào H’Mông thể hiện sự thích nghi độc đáo với điều kiện tự nhiên và mô hình bệnh tật vùng cao. Các bệnh đau nhức xương khớp chiếm tỷ lệ chữa trị cao nhất với 98 loài cây thuốc (24,38%), bệnh đường tiêu hóa chiếm 80 loài (19,90%), bệnh ngoại cảm có 70 loài (17,41%), bệnh hô hấp có 63 loài (15,67%) và bệnh tiết niệu - gan thận có 57 loài (14,18%). Tỷ lệ mắc các bệnh đau nhức và cảm mạo cao phản ánh trực tiếp môi trường sống tại vùng núi cao lạnh ẩm quanh năm với nhiệt độ không khí trung bình 17 độ C, độ ẩm 87% và đặc thù lao động mang vác nặng trên địa hình đồi dốc trên 30 độ.

Về bộ phận sử dụng, lá cây là cơ quan được thu hái nhiều nhất với 210 loài (52,24%), tiếp theo là thân, cành và vỏ thân với 173 loài (43,03%), toàn cây có 88 loài (21,89%), rễ và củ có 53 loài (13,18%). Cơ cấu này chứng minh kinh nghiệm khai thác thông minh của người bản địa vì việc thu hái lá và thân cành nhỏ ít làm tổn hại đến sự sinh tồn lâu dài của cá thể thực vật so với việc đào rễ củ. Thống kê cũng chỉ ra 152 loài được sử dụng đồng thời 2 bộ phận (37,81%) và 151 loài dùng 1 bộ phận (37,56%).

Các dữ liệu nghiên cứu về sự phân bổ taxon và mối liên hệ giữa dạng sống với môi trường tự nhiên có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình cột phân lớp và bảng ma trận tương quan sinh cảnh. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý rừng nhanh chóng nhận biết được những khu vực sinh cảnh nhạy cảm đang tập trung nhiều loài cây thuốc có giá trị để thiết lập phương án bảo vệ ưu tiên.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Quy hoạch và bảo tồn nghiêm ngặt: Thiết lập ngay các trạm bảo vệ thực địa và phân vùng quản lý đặc biệt tại các tọa độ xuất hiện của 15 loài cây thuốc quý hiếm (đặc biệt là quần thể Kim tuyến đá vôi tại Lao Chải San và Hoàng liên gai tại Ý Linh Hồ). Mục tiêu duy trì 100% diện tích phân bố tự nhiên của các loài nguy cấp, hoàn thành cắm mốc trong giai đoạn 2012 - 2014 dưới sự chủ trì của Ban Quản lý Vườn quốc gia Hoàng Liên.
  • Xây dựng mô hình nhân giống và gây trồng bán tự nhiên: Chuyển giao quy trình kỹ thuật ươm giống cho ít nhất 10 loài cây thuốc bản địa có nhu cầu thị trường cao (như Ba gạc vòng, Khổ sâm, Đương quy, Lá khôi) để trồng dưới tán rừng sản xuất và vườn hộ gia đình. Phấn đấu nâng tỷ lệ cây thuốc trồng tại địa phương từ 4,48% lên mức 20% trong giai đoạn 2013 - 2017, do Phòng Nông nghiệp và Trạm Khuyến nông huyện Sa Pa thực hiện.
  • Số hóa và bảo tồn tri thức bản địa: Xuất bản cẩm nang tra cứu song ngữ Việt - H'Mông và xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa 402 loài cây thuốc cùng các bài thuốc dân gian nhằm ngăn ngừa nguy cơ thất truyền. Tiến hành đăng ký sở hữu trí tuệ tập thể cho cộng đồng người H'Mông trước năm 2015, dưới sự phối hợp của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai và Ủy ban nhân dân hai xã San Sả Hồ, Lao Chải.
  • Nâng cao năng lực cộng đồng và kiểm soát thị trường: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật thu hái bền vững cho 100% các hộ gia đình sống gần rừng, cam kết không khai thác hủy diệt dạng rễ củ đối với các loài quý hiếm. Tăng cường tuần tra nhằm giảm 90% tình trạng khai thác, buôn bán trái phép dược liệu tự nhiên ra ngoài địa bàn huyện từ năm 2012.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Lâm học, Thực vật học, Dược liệu học: Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực nghiệm toàn diện về danh lục 402 loài cây thuốc, khóa phân loại, đặc điểm sinh thái học và phương pháp điều tra thực vật dân tộc học chuẩn mực.
  • Cán bộ quản lý Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên và Kiểm lâm: Tài liệu là căn cứ khoa học trực tiếp để xây dựng quy hoạch phân khu chức năng, thiết kế bản đồ bảo vệ nguồn gen và thực thi các biện pháp bảo vệ 15 loài thực vật bị đe dọa.
  • Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm và các tổ chức phát triển y học cổ truyền: Cung cấp danh mục dược liệu tiềm năng cùng thông tin chi tiết về bộ phận dùng, công dụng trị liệu dân gian nhằm định hướng nghiên cứu chiết xuất hoạt chất và phát triển sản phẩm thuốc mới.
  • Chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ (NGO): Hỗ trợ xây dựng các chương trình phát triển nông - lâm kết hợp, tạo việc làm, chuyển đổi sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng đệm các khu rừng đặc dụng.

Câu hỏi thường gặp

  • Đề tài đã ghi nhận được bao nhiêu loài thực vật làm thuốc tại xã San Sả Hồ và Lao Chải? Nghiên cứu đã thống kê chính xác 402 loài cây thuốc thuộc 302 chi và 111 họ của 6 ngành thực vật có mạch. Trong đó, ngành Hạt kín chiếm ưu thế lớn nhất với 373 loài (92,79%), ngành Dương xỉ có 20 loài (4,98%), phân bố chủ yếu ở rừng thứ sinh và rừng cây bụi tự nhiên.

  • Những nhóm bệnh nào được đồng bào H'Mông sử dụng cây thuốc điều trị nhiều nhất? Nhóm bệnh đau nhức xương khớp đứng đầu với 98 loài (24,38%), tiếp theo là các bệnh về tiêu hóa với 80 loài (19,90%), bệnh ngoại cảm với 70 loài (17,41%) và bệnh hô hấp với 63 loài (15,67%). Sự phân bố này phù hợp với điều kiện khí hậu ẩm lạnh quanh năm và tập quán lao động vùng cao.

  • Có bao nhiêu loài cây thuốc quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn tại khu vực nghiên cứu? Có tất cả 15 loài thuộc diện cần bảo vệ khẩn cấp, bao gồm 12 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam 2007 (trong đó Thổ hoàng liên lùn ở mức Rất nguy cấp - CR), 1 loài thuộc danh mục IUCN (Lá dương đỏ) và 6 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (như Kim tuyến đá vôi, Hoàng liên gai).

  • Bộ phận nào của cây thuốc được người H'Mông thu hái nhiều nhất và vì sao? Lá cây là bộ phận được dùng nhiều nhất với 210 loài (52,24%), tiếp đến là thân và cành với 173 loài (43,03%). Việc ưu tiên dùng lá và cành giúp người dân dễ dàng thu hái, sơ chế tươi hoặc phơi khô, đồng thời giảm thiểu tác động phá hủy sinh khối rễ cây.

  • Tỷ lệ cây thuốc được người dân đưa về trồng trong vườn nhà hiện nay là bao nhiêu? Hiện tại chỉ có 18 loài cây thuốc được trồng trong vườn nhà, chiếm tỷ lệ rất thấp 4,48% tổng số loài. Phần lớn 384 loài còn lại (95,52%) vẫn được thu hái trực tiếp từ môi trường tự nhiên, cho thấy sự cấp thiết phải phát triển các mô hình ươm trồng dược liệu nhân tạo.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập danh lục khoa học hoàn chỉnh đầu tiên gồm 402 loài cây thuốc thuộc 111 họ của 6 ngành thực vật được người H’Mông sử dụng tại San Sả Hồ và Lao Chải.
  • Ngành Hạt kín chiếm vị trí thống trị với 373 loài (92,79%), dạng thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 203 loài (50,50%) và rừng thứ sinh là nơi cư trú lớn nhất với 240 loài (59,70%).
  • Bộ phận lá được sử dụng phổ biến nhất (52,24%) và nhóm bệnh đau nhức xương khớp là mục tiêu điều trị hàng đầu với 98 loài (24,38%).
  • Luận văn đã xác định tọa độ GPS và lập bản đồ phân bố cho 15 loài cây thuốc nguy cấp quý hiếm (chiếm 3,73%) làm căn cứ phân vùng bảo tồn.
  • Tri thức bản địa người H'Mông là tài sản văn hóa - y học vô giá nhưng đang đối mặt nguy cơ mai một lớn do phần lớn cây thuốc (95,52%) vẫn bị khai thác tự nhiên.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn triển khai ngay đề án nhân giống bảo tồn 15 loài cây thuốc nguy cấp trong giai đoạn 2012 - 2015, đồng thời mở rộng các hợp tác xã trồng thảo dược dưới tán rừng. Các nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp dược phẩm hãy cùng chung tay khai thác các kết quả từ luận văn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học Vườn quốc gia Hoàng Liên và nâng cao sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao.