Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới 1. Từ trước thể kỷ XX Thực vật đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của loài người. Một trong những tác dụng không thể không kể đến của thực vật là làm thuốc chữa bệnh.
Trải qua nhiều thế hệ, với sự tích lũy kinh nghiệm, đã có rất nhiều loài cây có tác dụng chữa bệnh được tìm ra. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về công dụng của các loài cây nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống. Vấn đề sử dụng cây cỏ làm thuốc được các quốc gia trên thế giới tiến hành ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của dân tộc đó. Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền y học cổ truyền rất phát triển.
Theo truyền thuyết của Vua Thần Nông tức Viêm Đế (3320 – 3080 trước Công nguyên) thì Thần Nông đã đếm hàng trăm loại cây cỏ, phân loại dược tính của cây cỏ và soạn ra cuốn sách “Thần nông thảo bản”. Theo các tài liệu nghiên cứu về Trung Quốc của các nhà khoa học thì “Thần nông thảo bản” không soạn trong đời Thần Nông mà được soạn vào đời Đông Hán, vì thời Thần Nông không có văn tự. Tất cả mọi chuyện đều là truyền thuyết. Trong cuốn “Thần nông thảo bản” đã thống kê được 365 vị thuốc có giá trị.
Trong đó, nhiều bài thuốc vẫn được sử dụng cho tới ngày nay như cây Gai mèo (Cannabis sp) để chống nôn, cây Đại Phong Tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong… Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ. Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Từ thời nhà Hán (năm 168 trước Công nguyên) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ. Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”,….
[30] Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh. c 4 Ở các vùng khác tại Châu Á như Việt Nam và Nhật Bản, y học và văn hóa Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn. Mặc dù Kampod – dược thảo cổ truyền của Nhật Bản, là nét đặc sắc về y học của quốc gia này, nhưng nguồn gốc thật sự của phương thuốc này lại bắt đầu từ Trung Quốc. Không chỉ có ở Trung Quốc, nhiều nước khác cũng có những kinh nghiệm chữa bệnh lâu đời của họ.
Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm. Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh. Bộ sử thi Vedas được viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita được các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dược. Trong số đó, có cây cần ami (Ammi visnaga) là loài thảo mộc có nguồn gốc từ Trung Đông, gần đây được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị bệnh hen suyễn, cây rau má (Centella asiatica) từ lâu được sử dụng để chữa bệnh phong.
Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người. Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các viện nghiên cứu dược của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật. Từ thời cổ xưa, các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis) để rửa vết thương, vết loét làm cho chúng chóng lành bệnh mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có khả năng làm liền sẹo thông qua sự kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa.
Người cổ Hy Lạp đã sử dụng rau Mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thương cho mau lành. Hippocratrs (460 – 377 TCN), ông tổ của y học Hy Lạp, xem bệnh tật là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng siêu nhiên và ông cho rằng người ta có thể dùng các vị thuốc mà không cần phải tiến hành các nghi lễ cúng bái hoặc phù phép. c 5 Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu sưu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập.
Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician”. Đây là cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe. Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi. Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc.
Galen được Hippocratrs chỉ dẫn và đã đặt các giả thuyết chữa bệnh của mình trên cơ sở khoa học thuyết bốn thể dịch (gồm bốn chất lỏng chính hay thể dịch tồn tại trong cơ thể con người như: máu, dịch mật, u sầu và đàm). Những ý tưởng của ông có ảnh hưởng to lớn đến việc chữa bệnh trong 1400 năm sau. Tại Ấn Độ và Trung Quốc, các phương pháp trị bệnh tinh tế có phần tương tự với học thuyết bốn thể dịch cũng đã phát triển và tồn tại cho tới ngày nay. Từ sau thế kỷ XX Trong Y học dân gian Liên Xô đã sử dụng nước sắc vỏ cây Bạch dương (Betula alba), vỏ cây Sồi (Quercus robus) để rửa vết thương và tắm ghẻ.
Ở nước Nga, Đức đã dùng cây Mã đề (Plantago major) sắc nước hoặc giã nát lá tươi đắp, chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận. Tại Bungaria, “đất nước của hoa hồng” từ lâu đã sử dụng hoa hồng để chữa nhiều bệnh khác nhau. Người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và phù thũng. Ngày nay, người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có một lượng tanin, glusit, tinh dầu đáng kể, tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh.
[13] Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe của hàng triệu người. Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và các bác sĩ được đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn bộ dân số của các nước châu Phi. Ước tính số lượng thầy lang ở Tanzanmia có khoảng 30.000 c 6 người, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng 600 người. Tương tự ở Malasia có khoảng gần 20.000 người làm nghề thuốc cổ truyền nhưng số lượng bác sĩ rất ít.
Nền y học cổ truyền ở các quốc gia Châu Phi có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng. Từ lâu, người Haiiti thường dùng cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum) để làm thuốc chữa những vết thương bị nhiễm khuẩn, cầm máu, áp xe, nhức răng, vết loét lâu ngày không liền sẹo. Ở Pêru, người ta dùng hạt của cây Sen cạn (Tropaeolum majus L.) để trị phổi và đường tiết niệu. Ở Cu Ba, người ta đã dùng bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica papaya) để kích thích hoại tử, kích thích tổ chức hạt ở các vết thương phát triển.
Ở Philippin, người ta sử dụng cây Bồ cu vẽ (Breynia fructicosa) lấy vỏ sắc làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng chóng khỏi. Ở Malaixia, cây Húng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ, vắt nước cốt cho trẻ em uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà. Ở Cămpuchia, Malaixia người ta dùng Hương nhu tía (Ocimum sanctum), trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét, nước lá tươi có tác dụng long đờm hoặc giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã ghi nhận những cây thuốc trong Y học cổ truyền và các loài cây này đã được các nhà khoa học kiểm chứng, trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn.
Hay gần đây, tập thể các nhà khoa học đã cho ra đời cuốn sách Tài nguyên các loài cây thuốc ở Đông Nam Á “Plant Resources of South-East Asia, Medicinal and poisonous Plant (2001)” với 121 loài cây [46]. Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu c 7 trúc, những hợp chất này được chiết xuất từ cây cỏ để làm thuốc.
Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis. Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp). Từ cây Hoàng Liên (Coptis teeta), người ta đã chiết xuất được berberin.
Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng. Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+ và gram-, nấm.