Nghiên Cứu Tác Phẩm Như Tây Nhật Kí Của Thiền Sư Thanh Cao

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu văn bản tác phẩm như tây nhật kí của thiền sư thanh cao, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Hán Nôm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác phẩm Như Tây Nhật Kí của Thiền Sư Thanh Cao

Tác phẩm Như Tây Nhật Kí của Thiền Sư Thanh Cao là một trong những tác phẩm văn học quan trọng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Tác phẩm không chỉ ghi lại hành trình đi sứ của Thiền sư mà còn phản ánh tư tưởng và quan điểm của ông về việc hoằng dương Phật pháp trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Như Tây Nhật Kí được viết bằng chữ Nôm, thể hiện phong cách văn chương độc đáo và sâu sắc của tác giả.

1.1. Bối cảnh lịch sử và văn hóa khi tác phẩm ra đời

Tác phẩm ra đời trong bối cảnh triều Nguyễn đang đối mặt với nhiều thách thức từ phương Tây. Thiền Sư Thanh Cao đã tham gia vào đoàn sứ thần, điều này không chỉ thể hiện sự giao lưu văn hóa mà còn là một bước tiến trong việc khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc.

1.2. Ý nghĩa của Như Tây Nhật Kí trong văn học Việt Nam

Như Tây Nhật Kí không chỉ là một tác phẩm ghi chép mà còn mang giá trị văn học sâu sắc. Tác phẩm thể hiện sự kết hợp giữa thiềnvăn học, phản ánh tư tưởng hòa nhập giữa đạo và đời của Thiền Sư Thanh Cao.

II. Thách thức trong việc nghiên cứu tác phẩm Như Tây Nhật Kí

Việc nghiên cứu tác phẩm Như Tây Nhật Kí gặp nhiều thách thức do thiếu tư liệu và tài liệu tham khảo. Nhiều nghiên cứu trước đây chưa khai thác sâu về nội dung và giá trị của tác phẩm. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải có những nghiên cứu mới để làm sáng tỏ hơn về tác phẩm này.

2.1. Thiếu tư liệu và tài liệu tham khảo

Nhiều tài liệu liên quan đến Thiền Sư Thanh Cao và tác phẩm Như Tây Nhật Kí hiện nay còn rất hạn chế. Việc tìm kiếm và thu thập tư liệu là một thách thức lớn cho các nhà nghiên cứu.

2.2. Khó khăn trong việc phân tích nội dung tác phẩm

Nội dung của Như Tây Nhật Kí chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về văn hóa, lịch sử và thiền để có thể phân tích một cách chính xác.

III. Phương pháp nghiên cứu tác phẩm Như Tây Nhật Kí

Để nghiên cứu tác phẩm Như Tây Nhật Kí, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu văn bản học, thuyết minh học và phương pháp liên ngành. Những phương pháp này sẽ giúp làm rõ hơn giá trị nội dung và ý nghĩa của tác phẩm trong bối cảnh lịch sử.

3.1. Phương pháp văn bản học

Phương pháp này giúp phân tích cấu trúc và đặc điểm của văn bản Như Tây Nhật Kí, từ đó làm rõ giá trị nghệ thuật và nội dung của tác phẩm.

3.2. Phương pháp thuyết minh học

Sử dụng phương pháp này để giải thích và làm rõ các khía cạnh văn hóa, lịch sử trong tác phẩm, từ đó giúp người đọc hiểu sâu hơn về tư tưởng của Thiền Sư Thanh Cao.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu tác phẩm Như Tây Nhật Kí

Nghiên cứu tác phẩm Như Tây Nhật Kí không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể ứng dụng vào việc giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam. Tác phẩm có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo quý giá trong các khóa học về văn học và văn hóa Việt Nam.

4.1. Giá trị giáo dục từ tác phẩm

Như Tây Nhật Kí có thể được đưa vào chương trình giảng dạy để giúp sinh viên hiểu rõ hơn về văn hóa và lịch sử Việt Nam, cũng như tư tưởng của Thiền Sư Thanh Cao.

4.2. Khả năng ứng dụng trong nghiên cứu văn học

Tác phẩm có thể là nguồn tư liệu phong phú cho các nghiên cứu về văn học Nôm, cũng như các nghiên cứu liên quan đến thiền và văn hóa Việt Nam.

V. Kết luận về giá trị của tác phẩm Như Tây Nhật Kí

Tác phẩm Như Tây Nhật Kí của Thiền Sư Thanh Cao không chỉ là một ghi chép về hành trình đi sứ mà còn là một tác phẩm văn học có giá trị sâu sắc. Nghiên cứu tác phẩm này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn về thân thế và sự nghiệp của Thiền sư, cũng như những đóng góp của ông cho văn hóa và văn học Việt Nam.

5.1. Tầm quan trọng của Như Tây Nhật Kí trong văn học Việt Nam

Tác phẩm thể hiện sự kết hợp giữa thiềnvăn học, phản ánh tư tưởng hòa nhập giữa đạo và đời, từ đó khẳng định vị trí của Thiền Sư Thanh Cao trong lịch sử văn học Việt Nam.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai về tác phẩm

Cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn về Như Tây Nhật Kí để khám phá những giá trị chưa được khai thác, từ đó làm phong phú thêm kho tàng văn học dân tộc.

28/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phiên âm, dịch nghĩa, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Thân thế và sự nghiệp của Thiền sƣ Thanh Cao Chƣơng 2: Khảo cứu tác phẩm Như tây nhật kí Chƣơng 3: Giá trị nội dung của văn bản Tây hành nhật kí 7 Chƣơng 1 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THIỀN SƢ THANH CAO Tư liệu ghi chép về thân thế và sự nghiệp của Thiền sư Thanh Cao hiện nay còn lưu giữa được không nhiều và không cụ thể trong thư tịch. Bằng việc khảo cứu tư liệu tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm và điều tra thực tế tại chùa Đồng Nhân và chùa Đại Tráng, thành phố Bắc Ninh, chúng tôi sẽ cố gắng phác họa hành trạng của Thiền sư và sự nghiệp cống hiến với Phật pháp cùng sự nghiệp khắc in sách và kinh sách của ngài. Giới thiệu về Thiền sƣ Thanh Cao 1. Thân thế của Thiền sư Thanh Cao Chùa Đồng Nhân có tên chữ là Đồng Nhân tự 同人寺, thuộc thành phố Bắc Ninh, gồm nhà tam bảo 7 gian nối liền với nhà khách 5 gian, tạo thế vuông góc với hai ngôi nhà trên là 5 gian nhà tổ.

Trong vườn chùa có 5 ngôi tháp, trước sân nhà tam bảo có tượng Phật bà và một bia đá cổ. Trong chùa hiện có 5 bức hoành phi và 15 đôi câu đối. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Thạch trong bài viết Đồng Nhân Tự - đại bản doanh của Tướng Nguyễn Cao, trên tạp chí Xưa và Nay, số 1 - 2006, ngôi chùa được xây dựng năm 1877 sau khi Pháp tấn công Bắc Ninh lần thứ nhất (1873), để làm nơi hương khói cho linh hồn các nghĩa binh được siêu thoát. Năm 1882 nhân việc tướng Nguyễn Cao về trú quân tại chùa, nhà sư trụ trì chùa là Thích Thanh Cao nhờ tướng Nguyễn Cao viết văn bia [23].

Cũng tại chùa Đại Tráng và chùa Đồng Nhân hiện còn lưu lại được nhiều hiện vật/văn bản ghi chép về thân thế của Thiền sư Thanh Cao. Trong quá trình điều tra thực tế tại hai ngôi chùa này, học viên may mắn được tiếp cận những nguồn tư liệu quý giá, như hệ thống hoành phi câu đối, văn bia, khoa cúng tổ được viết bằng chữ Hán. Mỗi nguồn tư liệu đều có những giá trị quý giá riêng, bổ sung vào việc tìm hiểu thân thế của Thiền sư. 8 Thiền sư Thanh Cao người thôn Thanh Lâm, xã Mạc Xá, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, thuộc dòng dõi nho phong, chính tín xuất gia, tuổi nhỏ vào đạo, đắc ấn tín từ Hoà Thượng chùa Vĩnh Nghiêm, minh tâm kiến tính, làm sáng dòng thiền, làm con cháu kế đăng trụ trì chùa Đại Tráng, noi gương người xưa sinh ra pháp thân, nuôi lớn tuệ mệnh, lập cao ánh mây lành, làm tai mắt cho người sau, mưa rào mùa hạ gió ấm mùa đông dậy lời kinh báu như ngôi sao bắc đẩu trên núi cho đệ tử, từng lời từng chữ như nhả ngọc phun châu, uy nghi phép tắc đi lại nhẹ nhàng như áng mây, hiện vẻ uy lực như hổ chúa, ngoài hiện vẻ sáng ngời thanh thoát như dải ngân hán, trong ẩn tàng đức độ như tượng vương1.

Theo văn bản Khoa cúng tổ viết bằng chữ Hán hiện lưu giữ tại chùa Đại Tráng cho biết, Thiền sư là Tỷ khiêu thế danh là Tam Tỉnh, tự Thanh Cao, pháp danh Sinh Định Thích Không Không Luật sư2, Thiền sư là con cháu đời thứ chín của Tào Động Nam truyền3, tức là con cháu đời thứ chín của sơ tổ Thủy Nguyệt và thuộc đời thứ 44 phái thiền Tào Động. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Lang, ở Đàng Ngoài, Thiền phái 1 一心奉請,前回後異,夙願今生,托形骸於父母之精,假孕育於陰陽之氣,應以沙門 而得度,即於釋種於投機,海陽標单策神洲地鍾秀氣,莫舍已青林仁里係出儒風,正信出 家,弱冠入道…印永嚴尙之家風,明心見性,續焰傳燈,作大壯後昆之龜,鏡生法身,養慧 命,立群緇耳目之標霏,夏雨沛春,風示諸子斗山之望,言言金玊,字字珍珠,威肅風雲,儀 凜凜象王,外現氣高星漢,德堂堂獅子内藏”-nhất tâm phụng thỉnh, tiền hồi hậu dị, túc nguyện kim sinh, thác hình hài ư phụ mẫu chi tinh, giả dựng dục ư âm dương chi khí, ứng dĩ sa môn nhi đắc độ, tức ư thích chủng ư đầu cơ, hải dương tiêu Nam Sách thần châu đại trủng tú khí, Mặc Xá dĩ Thanh Lâm Nhân Lí hệ xuất nho phong, chính tín xuất gia, nhược quan nhập đạo… ấn Vĩnh Nghiêm hòa chi gia phong, minh tâm kiến tính, tục diệm truyền đăng, tác Đại Tráng hậu côn chi qui, cảnh sinh pháp thân, dưỡng tuệ mệnh, lập quần truy nhĩ mục chi tiêu phi, hạ vũ thị xuân, phong thị chư tử đẩu sơn chi vong, ngôn ngôn kim ngọc, tử tử chân châu, uy túc phong vân, nghi lẫm lẫm tượng vương, ngoại hiện khí cao tính hán, đức đường đường sư tử nội tạng”(Trích khoa cúng tổ chùa Đại Tráng) 2 单無青莫塔恩賜和尚磨訶比丘三省字清高法名生定釋空空律師 – Nam vô Thanh Mặc tháp khoa cúng tổ chùa Đại Tráng ân tứ hòa thượng ma ha tỷ khiêu Tam Tỉnh tự Thanh Cao pháp danh Sinh Định thích Không Không luật sư. 3 漕峒单傳第九宗- Tào Động Nam truyền đệ cửu tông- khoa cúng tổ chùa Đại Tráng. 9 Tào Động do Thiền sư Thủy Nguyệt đi du học Trung Hoa mang về.

Thiền sư hiệu là Tông Giác, sinh năm 1636, tên là Đăng Giáp, quê làng Thanh Triều, huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình.466] Cũng theo Khoa cúng tổ của các đệ tử viết để cúng Thiền sư Thanh Cao, ngài có ý chí xuất gia tu học từ thuở nhỏ, tu hành giảng truyền Phật đạo tại chùa Linh Sơn hơn 30 năm, trên dưới hơn nửa chốn Bắc Giang đều là đệ tử của Thiền sư4. Nhị khí: Tài thí pháp thí cả hai đều dung thông, ngụ theo ý chỉ của Thiền Tào Động “trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật” tu hành để mượn phương tiện của Lâm Tế mà hóa độ chúng sinh: thấy đời bệnh tật điều hòa dược thảo chữa bệnh cho dân, gặp lúc khốn khổ, chuyển gạo mì giúp người đói khổ, khắc in nội điển, biên khắc y thư, xây dựng chùa cảnh Đại Tráng để hoằng dương phật pháp5. Hiện nay, tại chùa Đại Tráng còn một tấm bia ốp trong bảo tháp do các môn đệ của ngài soạn khắc, ca ngợi sự nghiệp và công lao của ngài. Qua nội dung văn bia càng thấy làm rõ thân thế của ngài.

Tháng 2 năm Đinh Sửu (1877) niên hiệu Tự Đức thứ 30, Thiền sư Thanh Cao cùng quan viên thân hào hương lão trên dưới trong ngoài xã Đại Tráng đứng ra khởi công, quy tập nghĩa chủng, nghĩa từ và khai sáng chùa Đồng Nhân. Tháng 11 cùng năm thì hoàn tất chùa Đồng Nhân, chi phí mất 4 清高塔碑記尊師和尚,姓阮字三省,號清高,海東,莫舍.產也以簮嬰之閥翩,然出 家受戒,住錫古武山寺三十有餘年矣.間風搨定處石岸,聽法受經之下,北江諸寺院,半 出其間焉- Thanh Cao tháp bi kí tôn hòa thượng, tính Nguyễn tự tam tỉnh, hiệu Thanh Cao, Hải Đông, Mạc Xá, sản dã dĩ trâmn cụ chi phiệt biên, nhiên xuất gia thụ giới, trụ tích cổ Vũ Sơn tự tam thập hữu dư niên hỹ. Nhàn phong tháp định xứ thạch ngạn, thính pháp thụ kinh chi hạ, Bắc Giang chư tự viện, bán xuất kì gian yên. 5 一心奉請,法財二施,福慧雙修,寓名禅於教之中,達有為於無為之福,病度世調和 樂草,救療沉疴,饑饉辰轉運稻梁濟諸貧乏重刊内典印宋經文輯刻醫書創修寺宇海上 懒翁- nhất tâm phụng thỉnh, pháp tài nhị thí, phúc tuệ song tu, thực danh thiền ư giáo chi trung, đạt hữu vi ư vô vi chi phúc, bệnh độ thế điều hòa dược thảo, cứu liệu trầm kha, cơ cẩn thời chuyển vận đạo lương tế chư bận phiếm động hình nội điển ấn tống kinh văn, tập khắc y thư sáng tu tự vũ hải thượng Lãn ông” (Trích khoa cúng tổ chùa đại tráng) 10 hơn 3000 đồng cả việc trùng tu xây dựng tam bảo, tiền đường, tượng Phật.

Từ đó Thiền sư được mời về kiêm nhiệm trụ trì chùa Đồng Nhân để cầu siêu độ vong linh nghĩa sĩ và hoằng dương Phật pháp tại đây.6 Như vậy có thể nhận thấy, khi tu tập trụ trì ở chùa Đại Tráng, Thiền sư đã huy động công đức toàn dân để xây dựng chùa Đồng Nhân, mở đường khai sáng và giác ngộ đệ tử và phật tử, vừa làm cơ sở để hoằng dương Phật pháp. Ngay sau thời gian đó, chùa Đồng Nhân đã trở thành cơ sở để Thiền sư thực hiện các công việc khắc in kinh sách. Về năm ngài viên tịch, trong Khoa cúng tổ tại chùa Đại Tráng có ghi: năm Giáp Ngọ hoa mai báo tiểu xuân, tuổi vừa hơn lục giáp, ngày 23 giữa giờ ngọ đứng bóng mặt trời, cưỡi lưng lừa thẳng lên bốn núi, Thiền sư viên tịch vào ngày 23 tháng 10 năm Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 7 (1896)7. Nhục thân Thiền sư nhập tháp tại khuôn viên lăng mộ tháp chùa Đại Tráng thành phố Bắc Ninh, gọi tên là Thanh Mạc tháp.

Như vậy, các nguồn tư liệu tại chùa Đồng Nhân và Đại Tráng đã giúp chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thân thế của Thiền sư Thanh Cao. Sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Thiền sư Thanh Cao Thiền sư vốn xuất thân từ dòng dõi nho phong, lại chính tín xuất gia từ nhỏ, đắc tâm ấn từ Hòa Thượng Vĩnh Nghiêm, là con cháu đời thứ 9 của Thiền phái Tào Động, làm sáng rạng dòng sơn môn. Tại chùa Đồng Nhân (Bắc Ninh) còn đôi câu đối treo tại nhà tổ, nội dung nói rõ về thân thế của ngài như sau: 五百餘戒法傳持心誠樂道 九重上牒刀蠪賜喜溢同人8 Ngũ bách dư giới truyền trì tâm thành lạc đạo, 6 Bia hiện vật hiện ốp trong bảo tháp tại bảo tháp chùa Đồng Nhân 7 Khoa cúng tổ chùa Đại Tráng 8 Tỷ khiêu ni Đàm Nghiêm tặng, câu đối thờ tại nhà tổ chùa Đồng Nhân 11 Cửu trùng thượng điệp đao tứ dương hỷ dật đồng nhân. Tạm dịch là: Hơn 500 giới pháp trao truyền dốc lòng thành niềm vui với đạo pháp, Chín tầng giới đao độ điệp, niềm vui vì được ban ơn cho mọi người khắp chốn.

Thiền sư truyền trao cho đệ tử tứ chúng theo giới luật với mục đích rốt ráo là người xuất gia từ thân giáo đến khẩu giáo, biểu hiện từ tứ oai nghi để hoằng pháp bằng thân giáo của mình. Đó cũng là phương pháp tu trì và truyền dạy của Thiền sư thuở sinh thời hành đạo. Niềm vui giải thoát trong con đường chính pháp mà Thiền sư Thanh Cao đã trao truyền cho đệ tử xuất gia tại gia hơn 30 năm trụ trì lên tòa thuyết pháp, hơn nửa các chùa Bắc Giang là đệ tử giác ngộ nghe pháp từ Ngài: “住錫古武山寺三十有餘年矣.間風搨定處石岸,聽法受經之下,北江 諸寺院,半出其間焉” Tự giác ngộ, bước chân vào cửa thiền môn, Thiền sư luôn ôm giấc mộng giúp đời thoát khổ, nên dùng trí tuệ và lòng từ bi của mình diễn thuyết kinh văn độ khắp quần mê không mệt mỏi. Tuổi trẻ ôm hoài bão nguyện mang tài danh của mình để giúp người giúp đời, nhưng chợt nhận ra cái vòng danh lợi của thế gian cũng chỉ là ràng buộc của ba kiếp: 栽器宇住单如西遊兩國荣褒此會 壮爾襟懷超塵出世三生夢覺个關9 Tài khí vũ trụ nam như tây du lưỡng quốc vĩnh bao thử hội; Tráng nhĩ khâm hoài siêu trần xuất thế tam sinh mộng giác cơ quan.

Tạm dịch là: 9 Mùa đông Thành Thái năm thứ 4 (1892) Chiêu Phủ sứ họ Lê tỉnh Thanh Hóa tặng. Câu đối tại chùa Đồng Nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tác Phẩm Như Tây Nhật Kí Của Thiền Sư Thanh Cao" mang đến cái nhìn sâu sắc về tác phẩm nổi bật của Thiền sư Thanh Cao, khám phá những giá trị văn hóa và triết lý sâu xa trong tác phẩm này. Bài viết không chỉ phân tích nội dung và hình thức của tác phẩm mà còn chỉ ra những ảnh hưởng của nó đối với văn học và tư tưởng Việt Nam. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và văn hóa mà tác phẩm ra đời, từ đó nâng cao nhận thức về di sản văn học của dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nơi cung cấp cái nhìn về ngôn ngữ trong thơ ca kháng chiến, hay Luận án tiến sĩ hiện tượng song ngữ trong văn học trung đại việt nam, giúp bạn hiểu thêm về sự giao thoa văn hóa trong văn học. Cuối cùng, Luận án ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký tô hoài sẽ mang đến những góc nhìn mới về ngôn ngữ và cách thức kể chuyện trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan.