ĐẶT VẤN ĐỀ Hen là bệnh lý hô hấp mạn tính, ảnh hưởng ngày càng nhiều đến dân số toàn cầu thuộc mọi lứa tuổi, giới tính, dân tộc và quốc gia. Năm 2019, thế giới có 22,6 triệu trẻ em 1-19 tuổi mắc hen và 12,9 ngàn bệnh nhi hen tử vong, gây ra 5,1 triệu năm sống tàn tật được hiệu chỉnh.1 Bên cạnh những tổn thất trực tiếp liên quan chi phí chăm sóc y tế, hen trẻ em còn gây ra những gánh nặng kinh tế - xã hội gián tiếp liên quan mất ngày học (của trẻ), mất ngày làm (của thân nhân và người chăm sóc trẻ), cũng như những tổn thất vô hình (giảm chất lượng cuộc sống, giảm năng lực hoạt động thể lực, ảnh hưởng tâm lý xã hội).2 Cơn hen cấp là nguyên nhân hàng đầu chi phối gánh nặng bệnh tật của hen liên quan tỷ lệ nhập Cấp cứu, nhập viện, nhập khoa Hồi sức tích cực và tử vong.3,4 Có nhiều yếu tố khởi phát cơn hen cấp, thậm chí là cơn hen cấp nặng, bao gồm tiếp xúc dị nguyên, gắng sức, nhiễm trùng hô hấp (NTHH), không khí ô nhiễm, hút thuốc lá thụ động.4-6 NTHH có thể do vi khuẩn, virus (siêu vi), hoặc nấm.7 Trong đó, nhiễm siêu vi hô hấp (NSVHH) là một yếu tố khởi phát cơn hen quan trọng, chiếm tỷ lệ khoảng 50-90% các đợt hen cấp ở trẻ em tại các quốc gia thuộc các vùng khí hậu khác nhau.8-16 Trong số các siêu vi hô hấp phổ biến thì rhinovirus (RV) là tác nhân ưu thế nhất.9-16 Bên cạnh siêu vi hô hấp, vi khuẩn không điển hình (VKKĐH) cũng được chứng minh vai trò trong cơn hen cấp ở trẻ em.13,17-22 Trong khi đó, vai trò của vi khuẩn điển hình đối với cơn hen cấp ở trẻ em thì chưa có bằng chứng rõ ràng.23 Hen trẻ em chủ yếu là hen dị ứng thông qua đáp ứng miễn dịch liên quan lympho T giúp đỡ loại 2 (Type 2 T helper cell - Th2) và kháng thể Immunoglobulin E (IgE).24-26 Tỷ lệ bệnh nhi hen dị ứng khoảng 49-91% và mạt nhà là dị nguyên không khí (DNKK) trong nhà phổ biến nhất.25,27-31 Mẫn cảm dị ứng với DNKK trong nhà có liên quan với hen nặng và cơn hen cấp nặng.4,32,33 Ngoài ra, đã có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy NSVHH tăng nguy cơ vào cơn hen cấp nặng ở bệnh nhi hen dị ứng. Đây là hậu quả của tương tác giữa đáp ứng chống nhiễm trùng và đáp ứng dị ứng, gây bùng phát phản ứng viêm quá mức.23,34,35 Thậm chí, NSVHH có thể tăng nguy cơ thất bại điều trị cơn hen cấp.10 2 Việc hiểu được vai trò của NTHH trong cơn hen cấp ở trẻ em, đặc biệt là NSVHH ở bệnh nhi hen dị ứng, giúp xây dựng chiến lược phòng ngừa, điều trị, tiên lượng và theo dõi tối ưu, góp phần nâng cao chất lượng quản lý hen trẻ em.12 Tuy nhiên, vai trò của NSVHH cũng như tương tác giữa NSVHH và dị ứng trong cơn hen cấp ở trẻ em còn chưa thống nhất giữa các nghiên cứu.20,10,15,16,36-40 Tại Việt Nam, một quốc gia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, cho đến hiện tại có rất ít nghiên cứu khoa học về tình trạng NTHH ở bệnh nhi hen, mặc dù có nhiều nghiên cứu về tình trạng mẫn cảm dị ứng với DNKK. Tỷ lệ bệnh nhi hen dị ứng được chẩn đoán bằng thử nghiệm lẩy da (skin prick test - SPT) khoảng 60-87%.27,30,31 Chỉ nghiên cứu của Nguyễn Thị Diệu Thúy và cộng sự (2018) khảo sát về vai trò của NSVHH trên bệnh nhi hen dị ứng ở miền Bắc Việt Nam.40 Nhóm tác giả đã ghi nhận nhóm nhiễm RV có tỷ lệ cơn hen cấp nặng và nồng độ interleukin (IL) liên quan dị ứng (IL-5 và IL-13) cao hơn so với nhóm không nhiễm RV.40 Nghiên cứu này chỉ khảo sát nhiễm RV, một tác nhân siêu vi hô hấp thường gặp nhất ở bệnh nhân hen.
Thêm nữa, bệnh nhi hen dị ứng trong nghiên cứu này được xác định bằng định lượng nồng độ IL-5 và IL-13 trong máu. Từ thực tiễn trên, chúng tôi đặt ra câu hỏi nghiên cứu là ở miền Nam Việt Nam với đặc điểm khí hậu khác biệt so với miền Bắc thì NSVHH có làm tăng nguy cơ mắc cơn hen cấp nặng ở bệnh nhi hen dị ứng hay không? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu để khảo sát tác nhân vi sinh (gồm siêu vi hô hấp phổ biến và VKKĐH) cũng như cơ địa dị ứng ở bệnh nhi nhập viện vì cơn hen trung bình - nặng. Từ đó, chúng tôi phân tích tìm mối liên quan giữa NSVHH và cơn hen nặng ở nhóm bệnh nhi hen dị ứng. Nghiên cứu có các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau: 1.
Xác định tỷ lệ nhiễm siêu vi hô hấp, tỷ lệ nhiễm vi khuẩn không điển hình ở bệnh nhi nhập viện vì cơn hen trung bình - nặng và yếu tố liên quan. Xác định tỷ lệ hen dị ứng ở bệnh nhi nhập viện vì cơn hen trung bình - nặng và yếu tố liên quan. Xác định mối liên quan giữa nhiễm siêu vi hô hấp và đặc điểm cơn hen cấp ở bệnh nhi hen dị ứng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hen trẻ em và gánh nặng bệnh tật Đối với trẻ em, hen là bệnh hô hấp mạn tính thường gặp nhất và là một trong những nguyên nhân nhập viện chủ yếu.1,2 Năm 2019, thế giới có 22,6 triệu trẻ 1-19 tuổi mới mắc hen và 12,9 ngàn bệnh nhi hen (gồm 6,54 ngàn trẻ nam và 6,34 ngàn trẻ nữ) tử vong, gây 5,1 triệu năm sống tàn tật được hiệu chỉnh.1 Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ số năm sống tàn tật được hiệu chỉnh do hen (trên 100.000 trẻ) ở mức độ trung bình 133,1-<251,5 (Hình 1.1 Bên cạnh những tổn thất trực tiếp liên quan chi phí chăm sóc y tế trong chẩn đoán và điều trị bệnh, hen còn gây ra những gánh nặng kinh tế - xã hội gián tiếp liên quan mất ngày học (của trẻ), mất ngày làm (của cha mẹ và/hoặc người chăm sóc trẻ), cùng nhiều tổn thất vô hình như giảm chất lượng cuộc sống, giảm khả năng hoạt động thể lực, giảm năng suất lao động, và ảnh hưởng lên tâm lý xã hội của bệnh nhi cũng như thân nhân.2 Tỷ lệ số năm sống tàn tật được hiệu chỉnh do hen chuẩn hóa theo tuổi (trên 100.
Gánh nặng bệnh tật của hen trẻ em trên thế giới. “Nguồn: Zhang D, Zheng J, 2022”.1 Cơn hen cấp là nguyên nhân hàng đầu liên quan gánh nặng bệnh tật của hen. Dữ liệu từ mạng lưới bệnh viện nhi khoa Sydney ở New South Wales - Úc trong 5 năm (2015-2019) cho thấy số lượt nhập viện vì cơn hen cấp là 13.160, chiếm 2,7% 4 tổng số lượt nhập viện của trẻ em 2-17 tuổi.3 Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 750.000 lượt nhập khoa Cấp cứu và 200.000 đợt nhập viện vì cơn hen cấp nặng.4 Tại Việt Nam, chưa có số liệu thống kê chính xác về tỷ lệ mắc hen và những gánh nặng bệnh tật của hen trên cả nước, nhưng một số công trình nghiên cứu ở các vùng và địa phương cho thấy hen trẻ em có tỷ lệ mắc khoảng 4-8% và có xu hướng tăng mạnh trong thời gian gần đây, cứ 20 năm tỷ lệ hen trẻ em tăng lên 2-3 lần.41 Thành phố (TP) Hồ Chí Minh là một thành phố lớn nhất và phát triển nhất ở miền Nam Việt Nam nhưng thực trạng quản lý hen trẻ em tại đây vẫn còn nhiều bất cập như nhiều trẻ em có triệu chứng hen nhưng chưa được chẩn đoán và điều trị hen, cha mẹ thiếu kiến thức về bệnh hen của con.42,43 Khảo sát trên nhóm bệnh nhi nhập viện vì cơn hen cấp tại Khoa Hô hấp - bệnh viện Nhi Đồng 1, tỷ lệ bệnh nhi mắc cơn hen cấp trung bình - nặng trong nghiên cứu của Võ Lê Vi Vi (2014) là 98,2% và trong nghiên cứu của Hồ Thiên Hương (2015) là 100%.44 Thời gian nằm viện trung bình vì cơn hen cấp được ghi nhận trong các nghiên cứu này lần lượt là 3,4 ngày (Võ Lê Vi Vi, 2014) và 1,9 ngày (Hồ Thiên Hương, 2015).44,45 Kết quả tra cứu trên hệ thống quản lý bệnh nhân của bệnh viện Nhi Đồng 1 dựa theo mã phân loại bệnh quốc tế (International Classification of Diseases - ICD) J45 ghi nhận năm 2018 có 3.745 trường hợp nhập viện vì hen.2 Sinh bệnh học hen trẻ em Hen là một bệnh lý đa yếu tố. Sự tương tác phức hợp giữa yếu tố bản thân (cơ địa dị ứng, sự trưởng thành của hệ miễn dịch tại hệ hô hấp cũng như miễn dịch toàn thân, sự phát triển của phổi, sự hình thành hệ vi sinh vật tại đường thở) với các yếu tố từ môi trường (bao gồm khói thuốc lá, không khí ô nhiễm, vi sinh vật, dị nguyên) cùng thời gian tương tác giữa các yếu tố này quyết định sinh bệnh học hình thành nên các đặc điểm bệnh hen ở trẻ em.46 Bệnh học căn bản của hen bao gồm viêm mạn tính, tăng đáp ứng phế quản, và tái cấu trúc đường thở (Hình 1.47 Khi gặp yếu tố khởi phát, đường thở viêm mạn tính và nhạy cảm sẵn bị phù nề, co thắt cơ trơn, tăng tiết đàm và bong tróc mảnh vụn tế bào, dẫn đến tắc nghẽn đường thở.
Nếu đường thở đã bị tái cấu trúc thì sự tắc nghẽn 5 này chỉ có thể hồi phục một phần cho dù được điều trị tốt.47 Cơ chế sinh bệnh nền tảng của những biến đổi bệnh học này chủ yếu là đáp ứng dị ứng mạn tính của cơ địa mẫn cảm với DNKK trong môi trường. Trong đó, vai trò nòng cốt là IgE, bạch cầu ái toan (BCAT) và Th2 nên hen trẻ em chủ yếu là hen tăng BCAT hoặc hen Th2 cao. Đặc điểm bệnh học của hen. “Nguồn: Papadopoulos NG, Agache I, Bavbek S et al.1 Cơ chế hình thành hen Các quá trình phát triển của phổi diễn ra nhanh nhất trong 2-3 năm đầu đời và những xáo trộn đối với sự phát triển của phổi trong giai đoạn này gây ảnh hưởng đáng kể lên cấu trúc và chức năng hệ hô hấp.
Thậm chí, những biến đổi này có thể tồn tại lâu dài và tiến triển nặng lên theo thời gian.49 Hệ hô hấp là một trong những bề mặt tiếp xúc rộng lớn nhất của cơ thể người với môi trường bên ngoài. Biểu mô hô hấp là cửa ngõ của hệ miễn dịch tại hệ hô hấp và cũng là nơi khởi đầu kích hoạt những đáp ứng miễn dịch, góp phần quan trọng gây ra những biến đổi bệnh học của hen. Biểu mô đường thở bị tổn thương do tiếp xúc với các tác nhân nguy hại trong không khí (như vi sinh vật, chất kích thích, không khí ô nhiễm, dị nguyên) kích hoạt đáp ứng viêm sản xuất một số cytokin quan trọng 6 “alarmin” như IL-25, IL-33, và Thymic stromal lymphopoietin (TSLP).